Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Hồi Ký Trần Quang Cơ (The Memoirs of Tran Quang Co) - Cựu thứ trưởng Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN - Phần 20


20. KẾT THÚC MỘT CHẶNG ĐƯỜNG NHƯNG LỊCH SỬ CHƯA SANG TRANG


Sau 12 năm ròng rã, đối với chúng ta, vấn đề Campuchia coi như đã kết thúc và đã trở thành một hồ sơ của bộ phận lưu trữ trong Bộ Ngoại giao Việt Nam. Nhưng những bài học của 12 năm ấy vẫn còn có nhiều tính chất thời sự, nhất là bài học về chính sách và thái độ cư xử với các nước lớn.
Tiếp sau việc vấn đề Campuchia được giải quyết là việc thực hiện bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Theo thoả thuận giữa hai bên, ngày 5.11.91, TBT Đỗ Mười và thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có cuộc đi thăm chính thức nước CHND Trung Hoa, đánh dấu sự bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. “Quan hệ Việt – Trung tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau... Quan hệ Việt – Trung không phải là quan hệ đồng minh, không trở lại quan hệ như những năm 50-60...”
Tuy nhiên sau khi bình thường hoá quan hệ, lại dồn dập diễn ra những sự kiện xấu trên nhiều mặt quan hệ giữa hai nước, tập trung gay gắt nhất là các vấn đề liên quan đến lãnh thổ trên bộ vùng biên giới Hà Giang tháng 2, 3, 4.92; vụ nối lại đường xe lửa Liên vận ở Đồng Đăng, Lạng Sơn tháng 12.91 rồi 4.5.92; Lục Lầm, Quảng Ninh tháng 5.92) và tranh chấp biển đảo mà đỉnh cao là vụ Trung Quốc công khai hoá việc ký kết họp đồng thăm dò khai thác dầu khí với Công ty Năng lượng Mỹ Crestone tại một vùng rộng lớn trên thềm lục địa của Việt Nam (bãi Tư Chính).
Vì sao Trung Quốc tăng cường lấn ép ta vào thời điểm này ? Vì Trung Quốc cho rằng tình hình đó đang thuận lợi cho họ tranh thủ gấp rút thực hiện yêu cầu tăng thế và lực (xây dựng hải quân nhanh, nổ thử bom 1000 kilôton, thi hành chiến lược “biên giới mềm”) nhằm tạo cho mình một vị thế đỡ bất lợi so với Mỹ và các nước lớn khác, trong đó có ý đồ gấp rút biến biển Nam Trung Hoa - mà ta gọi là biển Đông - thành vùng biển độc chiếm của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn bộ vùng Đông Nam Á.
1. Trật tự thế giới cũ không còn, trật tự thế giới mới chưa hình thành. Các đối thủ chính của Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương đều đang gặp khó khăn, Liên Xô vừa tan rã. Liên bang Nga trước mắt chưa phải là thách thức đáng kể, Mỹ đang giảm bớt sự có mặt về quân sự ở châu Á - Thái Bình Dương, tránh can thiệp nếu lợi ích của Mỹ và đồng minh không bị đụng đến.
2. Đông Nam Á mới bắt đầu quá trình nối lại các quan hệ giao lưu giữa hai nhóm nước đối đầu cũ. Triển vọng liên kết hay nhất thể hoá Đông Nam Á, bất lợi đối với ý đồ bá quyền của Trung Quốc, đang còn có những trở ngại (nghi ngờ nhau do khác ý thức hệ, va chạm lợi ích, ý đồ của Thái Lan đối với Lào, Campuchia) đòi hỏi thời gian khắc phục Trung Quốc muốn tranh thủ thời gian này để cản phá xu thế hợp tác khu vực giữa Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam và ASEAN tạo ra một tập hợp lực lượng thân Trung Quốc ở Đông Nam Á (quân phiệt Thái, quân phiệt Myanmar, Khmer đỏ ở Campuchia và Lào nếu có thể) để khuất phục Việt Nam.
3. Bản thân Việt Nam còn đang lúng túng về những vấn đề chiến lược (vấn đề đồng minh, vấn đề tập hợp lực lượng, vấn đề bạn thù) trong tình hình mới sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ với Mỹ chưa bình thường hoá, Trung Quốc muốn đi vào bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trên thế mạnh.
Vì vậy Trung Quốc nhẩn nha trong các bước bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, vừa tạo bề mặt thân mật gắn bó Trung – Việt, vừa xiết chặt bên trong, giành lợi thế cho mình trên mọi lĩnh vực quan hệ. Cả hai mặt đều nhằm đạt mục tiêu khẳng định Việt Nam - Đông Dương là thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc, muốn tách Việt Nam khỏi Đông Nam Á và thế giới bên ngoài.
*
* *
Ngày 29.11.93, tại cuộc họp Trung ương thứ 6 khoá VII để nhận định tình hình và bàn về ảnh hưởng tới, với dự tính sẽ xin rút khỏi Trung ương trong kỳ họp Trung ương giữa nhiệm kỳ tới, tôi đã tranh thủ nói rõ quan điểm của tôi trước phiên họp toàn thể Trung ương dưới dạng trình bày những suy nghĩ của mình về “Thời cơ và những thách thức”.
Tôi cho rằng cục diện mới lúc này có mặt thuận lợi là đang nảy sinh những xu thế phù hợp với yêu cầu mở cửa, hoà nhập vào đời sống kinh tế–chính trị quốc tế của ta, đang tạo nên thời cơ thực hiện mục tiêu hoà bình và phát triển của nước ta.
Đó là:
1.      Xu thế độc lập tự chủ, tự lực tự cường của những nước nhỏ và vừa, có ý thức về lợi ích dân tộc của mình, cưỡng lại chính trị cường quyền áp đặt của nước lớn.
2.      Xu thế đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, tăng cường ngoại gia đa phương do nhu cầu đẩy mạnh giao lưu kinh tế và an ninh tập thể.
3.      Xu thế giữ hoà bình ổn định thế giới và khu vực nhằm bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi cho tập trung phát triển kinh tế.
4.      Xu thế liên kết khu vực về kinh tế và an ninh khu vực.
Đồng thời, cũng có những thách thức lớn đối với an ninh và phát triển của ta, cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài:
1.      Thách thức bên trong là tệ nạn tham ô và nhũng nhiễu đang huỷ hoại sức để kháng vật chất cũng cũng tinh thần của dân tộc ta, làm giảm hẳn khả năng chống đỡ của ta đối với các thách thức bên ngoài.
2.      Diễn biến hoà bình - một dạng biểu hiện của mâu thuẫn Đông - Tây sau chiến tranh lạnh.
3.      Bá quyền bành trướng. Nguy hiểm không kém diễn biến hoà bình, ở sát nách ta, thể hiện lúc mềm, cứng để gây mơ hồ mất cảnh giác (điểm này trong hội nghị hầu như không có ý kiến nào đề cập tới54).
4.      Tình hình Campuchia còn đầy bất chắc với Khơ me đỏ còn đó, cộng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Campuchia.
Trên cơ sở nhận định về thời cơ và nguy cơ như vậy, tôi đã đưa ra kiến nghị:
1.      Cần nhìn tổng thể tình hình khách quan và chủ quan, đối chiếu các thách thức với khả năng các mặt của ta để chọn cách xử lý sát thực tế, vừa sức.
2.      Trước hết xử lý thách thức nào trong tầm tay của ta, tập trung chống tham nhũng để bảo tồn và tăng cường sức đề kháng phòng ngừa thách thức bên ngoài.
3.      Ưu tiên cho liên kết khu vực (Đông Nam Á). Liên kết không phải để đối đầu chống nước nào.
4.      Đối với các nước lớn, quan hệ hữu hảo, không đối đầu nước nào, nhưng đều giữ khoảng cách nhất định.
5.      Song song với việc kết bạn, không lơ là với việc đấu tranh khi cần thiết. Song luôn giữ giới hạn. không gây nguy cơ mất ổn định khu vực.
6.      Tránh không làm gì có thể dồn hai hoặc ba đối thủ câu kết lại vơi nhau chống ta.
Những ý kiến trên đây có thể dùng làm đoạn kết cho phần hồi ức này của tôi, vì phản ảnh khá đầy đủ quan điểm của tôi và cho đến nay (năm 2000)55 xem ra nó chưa phải đã lỗi thời.56
 54 bản 01 thêm: ngại đụng TQ, tuy ta nói trong nội bộ
55 bản 01 viết: (1999)
56 bản 01 thêm: Trước đây, ngày 4.6.93 theo yêu cầu của Thường trực BCT, tôi đã viết ngày 20.6.93 đã gửi các đồng chí Thường trực BCT tài liệu “Những thách thức đối với an ninh và sự phát triển của ta. Một số kiến nghị đối sách” (xem phụ lục của Hồi ức) thẳng thắn nêu ý kiến của mình về mấy vấn đề lớn: những thách thức, đe doạ đối với an ninh và phát triển của ta có thể xuất xứ từ đâu, dưới những dạng nào ?

Hồi Ký Trần Quang Cơ (The Memoirs of Tran Quang Co) - Cựu thứ trưởng Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN - Phần 19


19. HIỆP 2 CỦA HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CAMPUCHIA


Với đà tiến triển nhanh chóng qua các cuộc họp SNC tại Jakarta (6.91), Bắc Kinh, Pattaya (Thái Lan) và Nữu Ước (9.91), P5 quyết tâm giải quyết nhanh gọn vấn đề Campuchia làm đà giải quyết các cuộc xung đột khu vực khác, đặc biệt là Trung Đông. Cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều có lợi ích đồng tình với phương Tây – chủ yếu là Mỹ – gạt nốt những vướng mắc cuối cùng trong việc thông qua các văn bản dự thảo Hiệp định 28.11.90 của P5.
Cuối tháng 9.91, tôi dẫn đầu đoàn đại biểu nước ta đi Nữu Ước dự khoá họp thứ 10 Đại hội đồng LHQ. Khác với năm 1988, khi tôi đại diện Việt Nam dự Đại hội đồng LHQ khoá thứ 43, lần này vấn đề Campuchia đã đi sát đến giải pháp. Trong thời gian ở Nữu Ước, tôi đã tranh thủ tiếp xúc với Hunxen đang họp SNC ở đó để tìm hiểu thái độ bạn Campuchia về dự thảo Hiệp định. Tôi được biết ngày 21.9.91, Nhà nước Campuchia cuối cùng đã buông thả rất nhanh tất cả các điểm yêu cần sửa dự thảo Hiệp định. Như vậy, chỉ còn lại một mình Việt Nam là nước duy nhất đòi bổ sung dự thảo về 4 điểm liên quan đến Việt Nam. Tôi vội thông báo tình hình này về nước để nhà sớm có quyết sách đích đáng cho đoàn đại biểu ta đi dự Hội nghị quốc tế Pari về Campuchia. Ngày 13.10.91 bộ phận thường trực và sau đó các đồng chí khác trong BCT đã thông qua chủ trương Việt Nam tham gia ký kết Hiệp định với 2 phương án đấu tranh về 4 điểm bổ sung của ta. Sáng 14.10, anh Võ Văn Kiệt đã gặp tôi ở Văn phòng Hội đồng bộ trưởng để cho ý kiến về 2 văn bản do Bộ Ngoại giao chuẩn bị cho cuộc họp về vấn đề Campuchia ở Pari. Sau khi nghe tôi trình bày, anh Kiệt tán thành Tờ trình BCT về phương án đấu tranh của ta tại Hội nghị quốc tế Pari, và góp ý kiến sửa lại 2 chỗ trong bản dự thảo Tuyên bố Chính phủ.
Ngày 16.10, trên đường đi Pari, tôi được điện của của Bộ báo cho biết cả Levitte, thứ trưởng Ngoại giao Pháp và Từ Đôn Tín, lúc này đã là thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc, đều muốn gặp tôi sớm, trước ngày họp Uỷ ban Phối hợp của Hội nghị. Trên cơ sở phán đoán là cả hai đều muốn gặp để thương lượng và thúc đẩy Việt Nam rút các yêu cầu sửa đổi dự thảo Hiệp định để bảo đảm cho cuộc họp Uỷ Ban Phối hợp khỏi gặp trắc trở, tôi đã quyết định gặp Levitte trước, sau đó mới gặp Từ. Suy nghĩ của tôi là: Pháp là nước đồng chủ tịch và là nước đăng cai hội nghị, rất muốn hội nghị đạt kết quả. Đề cao được vai trò Pháp trên quốc tế, đồng thời gặp Pháp trước sẽ tỏ rõ được thiện chí và tính độc lập của ta, nếu gặp Trung Quốc trước gặp Pháp sau thì sẽ chịu tiếng bị sức ép của Trung Quốc mà phải nhượng bộ.
Ngày 18.10, ngay sau khi đến Paris, tôi đã gặp Levitte thảo luận. Đúng như đã phán đoán, Pháp tha thiết mong Việt Nam có thái độ mềm dẻo đối với dự thảo Hiệp định. Cuối cùng, để tỏ thiện chí, tôi đã thoả thuận với Pháp về cách làm như sau: trong báo cáo của Tổng Thư ký LHQ trước Hội Đồng Bảo An sẽ có giải thích những điểm mà Việt Nam yêu cầu làm rõ. Và ngay trong cuộc họp Uỷ ban Phối hợp ngày 21.10.91, trong bản trình bày của Phó tổng thư ký LHQ Ahmed Rafeuddin cũng phải nêu đầy đủ các giải thích này, đồng thời Levitte nhân danh chủ tịch Uỷ ban sẽ tuyên bố hoan nghênh thiện chí hợp tác của Việt Nam đã thôi không đưa các bổ sung dự thảo Hiệp định nữa vì đã có những giải thích thích đáng của Phó Tổng thư ký LHQ. Tôi cũng thoả thuận với Levitte sẽ có cuộc gặp tay ba với Ahmed để có thoả thuận cuối cùng.
Hôm sau, tôi gặp Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Từ Đôn Tín. Từ cũng có mục đích thuyết phục ta thôi không đưa các yêu cầu bổ sung nữa, nói nếu Việt Nam đưa bổ sung thì các nước khác cũng đòi bổ sung để cân bằng lại, Mỹ sẽ đòi hoãn việc ký kết và đổ trách nhiệm cho Việt Nam.
Ngày 20.10.91, như đã thoả thuận với Pháp, ngay sau khi Phó Tổng thư ký LHQ đến Paris, đã có cuộc họp tay ba giữa Việt Nam, Pháp và Phó Tổng Thư ký LHQ Ahmed. Ahmed thoả thuận cách làm như ta đã bàn với Pháp hôm 18.10 và cho trợ lý của ông ta ghi lại các câu chữ mà ta yêu cầu nói rõ khi ông giải thích về mấy điểm bổ sung của ta. Như vậy thực chất là đã vượt mức yêu cầu của ta, nhưng để giữ cao giá, tôi nói sơ bộ thoả thuận như vậy song tôi còn phải xin chỉ thị Hà Nội, sẽ khẳng định lại trong sáng 21.10 trước khi bắt đầu họp Uỷ ban Phối hợp.
Sáng 21.10.91, khi đoàn Việt Nam đến Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber, có một đoàn viên của đoàn Trung Quốc ra mời tôi gặp Từ Đôn Tín có việc gấp cần trao đổi trước khi họp. Từ yêu cầu gặp riêng tôi nói chuyện bằng tiếng Tàu không qua phiên dịch, cho biết Mỹ định đưa bổ sung vào Định ước một đoạn lên án diệt chủng và yêu cầu tôi cho biết ý kiến. Tôi trả lời: “chuyện này bây giờ chủ yếu là vấn đề của người Campuchia, nên để các bên Campuchia có ý kiến. Còn quan điểm của Việt Nam là đến lúc này không nên để bất cứ một vấn đề nào gây trở ngại cho việc ký kết.” Từ xem ra hài lòng về cách tỏ thái độ của ta. Nhưng cuối cùng hình như đã có sự thoả hiệp giữa Mỹ và Trung Quốc, Mỹ rút bỏ từ “diệt chủng” trong đoạn bổ sung và chỉ nói chung chung về “nhân quyền” và các quyền tự do cơ bản của người Campuchia cần được các nước tôn trọng.
Sau đó đã tiến hành phiên họp thứ 8 của Uỷ ban Phối hợp của Hội nghị quốc tế Paris về Campuchia53 (PICC) để thông qua lần cuối các văn kiện đưa ra Hội nghị cấp bộ trưởng. Sự việc đã diễn ra hoàn toàn đúng như đã thoả thuận giữa ta với Pháp và Phó tổng thư ký LHQ. Sau lời khai mạc của hai đồng chủ tịch Pháp và Inđônêxia, Phó Tổng thư ký LHQ Ahmed đọc bản trình bày tình hình chuẩn bị triển khai việc thi hành Hiệp định sẽ được ký kết và đọc đầy đủ những lời giải thích về 4 điểm mà ta yêu cầu bổ sung (việc đưa trở lại hay đưa quân của bất cứ nước ngoài nào vào Campuchia sẽ là vi phạm Hiệp định; các thông tin cần cung cấp cho UNTAC chỉ liên quan đến các lực lượng nước ngoài còn có mặt ở Campuchia khi ký kết Hiệp định này; sự có mặt của sĩ quan liên lạc UNTAC ở thủ đô Việt Nam, Lào và Thái Lan không có hàm ý mở rộng quyền hạn UNTAC sang các nước láng giềng của Campuchia... phải tôn trọng đẩy đủ chủ quyền của các nước này). Đáp lại, tôi đã phát biểu hoan nghênh và ghi nhận những lời giải thích của Phó tổng thư ký LHQ. Levitte, đồng chủ tịch cuộc họp, biểu thị cảm ơn Việt Nam vì thiện chí hợp tác.
Kết quả cả 4 văn kiện để ký kết đều đã được nhất trí thông qua trong Uỷ ban Phối hợp, không có sự tranh cãi nào về thực chất cả, kể cả những vấn đề ta đã dự phòng như: vấn đề tù binh, vấn đề Việt kiều ở Campuchia, vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia... đều không có đoàn nào nêu ra. Giờ đây chỉ còn là công việc ký kết Hiệp định của anh Nguyễn Mạnh Cầm tối 23.10.91.
Sáng 22.10.91, Đài RFI (Pháp) đã xin gặp tôi và đặt câu hỏi: “Ông tới Paris với tư cách là đại biểu của Việt Nam tham dự Hội nghị hoà bình về Campuchia, và hôm qua ông đã tham gia thông qua văn bản cuối cùng của Hiệp định hoà bình. Trước hết xin ông cho biết cảm tưởng về việc ký kết văn bản này, khi mà sau mười mấy năm chiến tranh ác liệt, nay ở Campuchia đã có hoà bình thực sự ?” Câu trả lời của tôi lúc đó là: “Cảm tưởng của tôi đối với việc một hai ngày nữa sẽ ký kết Hiệp định hoà bình về Campuchia là cảm tưởng của một người sau nhiều ngày luồn rừng leo núi đã tới được quãng đường rộng thảnh thơi, và cũng là cảm tưởng của một người qua nhiều ngày đi trên sa mạc sắp đến trạm nghỉ, tuy nhiên đây không phải là trạm nghỉ cuối cùng, mà là nghỉ để tiếp tục một chặng đường mới với những thách thức mới, nhưng chắc chắn có nhiều điều hứa hẹn tốt đẹp hơn”.
 53 Paris Int’l Conference on Campuchea

Hồi Ký Trần Quang Cơ (The Memoirs of Tran Quang Co) - Cựu thứ trưởng Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN - Phần 18


18. ĐẠI HỘI VII VÀ CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CHO VIỆC BÌNH THƯỜNG HOÁ QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC


Từ 17 đến 27.6.91 Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội lần thứ VII đưa lại nhiều thay đổi quan trọng về nhân sự: Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm TBT; Lê Đức Anh nay nghiễm nhiên giữ vị trí thứ 2 trong Đảng, Uỷ viên thường trực BCT kiêm bí thư trung ương phụ trách cả 3 khối quốc phòng – an ninh – ngoại giao và lên chức Chủ tịch nước. Võ Văn Kiệt được giới thiệu với Nhà nước cử làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Đào Duy Tùng thường trực Ban bí thư. Bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng nắm bộ phận thường trực của Bộ Chính trị và của Ban Bí thư. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị gạt ra khỏi chức uỷ viên Trung ương. Còn Nguyễn Cơ Thạch bị bật ra khỏi Bộ Chính trị và chuẩn bị thôi chức Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao... (thực ra những thay đổi về nhân sự trong BCT đã được quyết định từ tháng 5 và Trung Quốc đã biết). Dư luận quốc tế xôn xao cho rằng Nguyễn Cơ Thạch là “vật tế thần” trong việc Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng đó mới chỉ là một cách nói đơn giản vì vấn đề không chỉ là bình thường hoá quan hệ mà là phụ thuộc hoá quan hệ.
Trước hết vấn đề đặt ra là ai sẽ thay anh Thạch giữ chức bộ trưởng ngoại giao ? Từ đầu tháng 7, tôi đã nhiều lần được triệu tập lên gặp TBT Đỗ Mười và Trưởng ban tổ chức trung ương Lê Phước Thọ (người thay Nguyễn Đức Tâm), để được thông báo và đả thông về dự định đưa tôi làm Bộ trưởng ngoại giao. Lần gặp sáng ngày 10.7.91, thấy tôi vẫn từ chối, Đỗ Mười đã hiểu lầm tưởng tôi không nhận vì chưa được vào BCT như Bùi Thiện Ngộ - người thay Mai Chí Thọ làm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ - nên hứa sẽ giải quyết chuyện đó sau khi nhận chức Bộ trưởng ngoại giao. Tôi nói chỉ vì lý do “sức khoẻ” mà xin không nhận: “45 năm nay tôi liên tục công tác, cố gắng làm tốt các công việc được giao, không từ nan. Song lần này không thể nhận. Tôi chỉ có nguyện vọng và làm nốt công việc thứ trưởng ngoại giao. Đề nghị các anh quyết định theo phương án chúng tôi đề nghị ngày hôm qua: cử anh Vũ Oanh hay anh Vũ Khoan. Nhân đây tôi xin phản ảnh tư tưởng chung của anh em cán bộ nhân viên Bộ Ngoại giao là có sự đối xử chưa công bằng với Ngoại giao”.
Vì sao tôi được người ta chọn để thay Nguyễn Cơ Thạch tuy biết rõ tôi có cùng quan điểm về chính trị đối ngoại với anh Thạch ? Tôi nghĩ có 2 lý do: một là, che đậy ý nghĩa chính trị của việc [thay thế anh]52 Nguyễn Cơ Thạch; hai là, cơ chế mới về đối ngoại sau Đại hội VII có khả năng vô hiệu hoá hoàn toàn mới chủ trương và hành động sai khác với quan điểm của mấy vị trong Ban Thường trực BCT mới.
Sau khi tôi được miễn, đã có một cuộc vânh động khá sôi nổi quanh vấn đề này. Những tên tuổi như Vũ Oanh, Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Vũ Khoan, Nguyên Dy Niên… được nói tới. Cuối cùng Nguyễn Mạnh Cầm, lúc đó đang là Đại sứ ta tại Liên Xô được chọn, mặc dù khi ấy ânh còn rất lưỡng lự.
Sau Đại hội VII, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, bí thư TƯ, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của TBT Đỗ Mười, quyết định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Đối ngoại chủ trì. Một thí dụ điển hình về vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể: Ngày 5.8.91, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: ‘Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (Đại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh’. Lê Đức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Đối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Đảng xin làm qua Trương Đức Duy. Hôm sau, Hồng Hà với tư cách Trưởng ban Đối ngoại tiếp Đại sứ Campuchia Ouch Borith, đã thông báo: “Theo sự phân công của BCT Việt Nam, từ nay đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà sẽ phụ trách việc thảo luận giải pháp Campuchia và các vấn đề liên quan. Nếu lãnh đạo Campuchia muốn bàn các vấn đề trên thì đề nghị quan hệ và thảo luận trực tiếp với 2 đồng chí đó.
Ngày 9.7.91, vừa được bầu làm TBT, Đỗ Mười gặp đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy tỏ ý muốn cử đặc phái viên đi Bắc Kinh để thông báo về Đại hội VII và trao đổi về quan hệ giữa hai nước. Trước đó ít ngày–ngày 11.6.91 – Bộ Ngoại Giao ta cũng đã gặp đại sứ Trung Quốc đề nghị mở lại đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao hai nước. Ngày 17.7, Trung Quốc trả lời đồng ý gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh từ 5.8 đến 10.8. Hai ngày sau, Trung Quốc trả lời đồng ý việc ta cử đặc phái viên gặp lãnh đạo Trung Quốc, nhưng lại sắp xếp cuộc gặp đặc phái viên Đảng trước cuộc gặp thứ trưởng ngoại giao… Việc làm trên cho thấy một mặt Trung Quốc muốn gặp ta ở cả hai cấp, mặt khác muốn dùng những thoả thuận với cấp đặc phái viên để ép ta trong cuộc gặp cấp thứ trưởng ngoại giao. Để đề cao công việc này, phía Trung Quốc đã đề nghị thay chữ “đặc phái viên” thành “đoàn Đại diện đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam” tuy Đoàn chỉ có 2 thành viên là Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hồng Hà lúc đó là bí thư TƯ, phụ trách đối ngoại. Phụ tá đoàn là Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại của Đảng. Tôi nhớ khi đó Bộ Ngoại giao có đề nghị có một thứ trưởng ngoại giao là uỷ viên TƯ đi với đoàn để nắm tình hình vận dụng vào cuộc đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao ngay sau đó, nhưng đề nghị không được chấp nhận. Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Nghiêm Hoành cũng không được tham dự các hoạt động của đoàn, trong khi đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Trương Đức Duy lại có mặt trong mọi hoạt động chính thức của đoàn tại Trung Quốc.
Ngày 28.7.91, đoàn đã đến Bắc Kinh và trong mấy ngày sau đó đã gặp Kiều Thạch, Lý Bằng, Giang Trạch Dân thông báo khá chi tiết về Đại hội VII. Thông báo cả những ý kiến khác nhau quá trình thảo luận, tranh luận và việc biểu quyết những vấn đề quan trọng trong Đại hội, và cơ cấu nhân sự của Ban Chấp hành TƯ mới..., Giang Trạch Dân và Lý Bằng tỏ ra quan tâm đến việc Việt Nam sẽ có ngoại trưởng mới (thay Nguyễn Cơ Thạch) trong kỳ họp Quốc hội tháng 8.91, Giang tỏ ý hài lòng: “Từ đáy lòng mình, tôi hết sức hoan nghênh kết quả Đại hội VII của các đồng chí Việt Nam”.
Đặc biệt mặc dù chuyến đi có mục đích gặp lãnh đạo Trung Quốc thông báo về Đại hội VII và bàn quan hệ hai nước, nhưng Lê Đức Anh và Hồng Hà đã chủ động xin gặp Từ Đôn Tín tới 2 lần, chiều 29.7 và tối 31.7 để tạ lỗi (?). Mở đầu cuộc gặp chiều 29.7, Lê Đức Anh đã nói: “Năm ngoái khi đồng chí Từ Đôn Tín sang Việt Nam đã xảy ra một số trục trặc không hay lắm do phía chúng tôi gây ra (!) Đồng chí Nguyễn Văn Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay gặp đồng chí, tôi nói tình cảm của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và của tôi... Tình hình trục trặc trong quan hệ là một việc đau lòng, nhất là giữa những người cộng sản. Khúc nhạc cũ đã qua rồi, mong các đồng chí yên tâm”. Còn Từ thì cũng mượn dịp này để than phiền về đại sứ Đặng Ngiêm Hoành: “Một năm nay đồng chí ấy không gặp tôi, trừ khi gặp ở các cuộc chiêu đãi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Hoành kể từ tháng 6 năm ngoái” (sự thực là phía Trung Quốc đã có thành kiến với anh Hoành từ trong cuộc đàm phán tháng 6.90 ở Hà Nội). Từ không quên nhắc đến điều kiện không thể thiếu có thể bình thường hoá quan hệ với Việt Nam: “Tôi rất hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà là từ nay không nói diệt chủng nữa. Khi về Hà Nội nếu gặp Campuchia đề nghị các đồng chí cũng nói ý này... Nếu các đồng chí lãnh đạo Việt Nam sang Trung Quốc mà cái đuôi Campuchia vẫn còn thì chúng tôi khó nói với nhân dân. Mong vấn đề Campuchia được giải quyết thì khi bình thường hoá quan hệ chúng tôi có thể ăn nói với nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”.
Để dọn đường cho cuộc gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh tháng 8.91, tối 31.7 Hồng Hà đảm bảo với Từ Đôn Tín: “Đồng chí Lê Đức Anh và tôi sẽ làm việc trực tiếp với thứ trưởng Nguyễn Dy Niên (người được chỉ định đi đàm phán với Trung Quốc chỉ vì chưa có “tiền sử” với Trung Quốc) trước khi đồng chí ấy đi Trung Quốc. Chúng tôi phải báo cáo với BCT để có ý kiến chỉ đạo không những về nội dung mà cả về tinh thần và thái độ làm việc. Tinh thần của chúng tôi là phấn đấu làm cho cuộc gặp thành công”. Sau khi đã cam kết từ nay không nói đến vấn đề diệt chủng nữa, Hồng Hà hỏi Từ: “Tôi muốn hỏi đồng chí ngoài vấn đề diệt chủng, còn hai vấn đề gai góc là vấn đề quân đội các bên Campuchia và vai trò LHQ thì phương hướng giải quyết nên thế nào, để chúng tôi có thể góp phần làm cho cuộc gặp thứ trưởng Việt – Trung ở Bắc Kinh sắp tới đạt kết quả tốt”. Xin ý kiến đối phương và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại !
Sau khi ở Trung Quốc về, ngày 4.8.91, Lê Đức Anh và Hồng Hà gặp tôi và Nguyễn Dy Niên tại Văn phòng TƯ Đảng để chuẩn bị cho Niên đi đàm phán với Trung Quốc. Sau khi anh Niên đọc bản đề án của Bộ Ngoại Giao, tôi nói: “Anh Hoành (đại sứ ta ở Trung Quốc) vừa điện về phía Trung Quốc thông báo có 3 buổi làm việc nhưng họ nói có thể làm một buổi là xong. Chắc chắn Từ Đôn Tín sẽ đưa văn bản buộc chúng ta phải thoả thuận. Nếu ta nhận, họ sẽ xì ra cho các nước P5, ASEAN và bạn Campuchia. Ta sẽ ở vào thế phản bội đồng minh, phản bội bạn bè. Nếu ta đòi sửa văn bản của Trung Quốc thì sẽ không ra được văn bản, đàm phán sẽ thất bại. Chúng tôi đã xem lại biên bản thấy Trung Quốc gắn rất chặt vấn đề Campuchia với việc bình thường hoá quan hệ, vẫn coi Campuchia là điều kiện. Trung Quốc rất khôn, khi gặp cấp cao chỉ tập trung vào vấn đề quan hệ hai nước, còn cái xương để lại. Gặm cái xương này, chúng ta phải giải quyết vấn đề có tính nguyên tắc. Ta quyết tâm bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc nhưng không được phá quan hệ với Campuchia và không được để thế giới thay anh Việt Nam là người tráo trở”. Biết tôi quá gai góc, không chịu chấp nhận ý đồ thoả hiệp vô nguyên tắc với Trung Quốc, Lê Đức Anh và Hồng Hà chỉ nói chung chung về chuyến đi Bắc Kinh vừa qua. Hồng Hà nói: “Tinh thần tôi nắm được là ý Trương Đức Duy và Từ Đôn Tín đều lo cuộc gặp thứ trưởng thất bại. Từ có hỏi: Không biết đồng chí thứ trưởng nào gặp tôi có nắm được tinh thần này không ?” Tôi liền bảo: “Như vậy càng rõ là họ có yêu cầu cao nên họ sợ ta không thể chấp nhận được”. Hồng Hà nói: “Tôi hiểu họ muốn bình thường hoá quan hệ là chính nên họ lo”. Tôi đáp: “Về mặt này thì phải nói là Việt Nam lo hơn vì Việt Nam mót bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc hơn.” Vào cuối buổi họp, Hồng Hà nói: “Chuyến đi của anh Niên là thuận lợi, sau chuyến đi của anh Lê Đức Anh. Anh Niên cũng là nhân vật mới, không có “tiền sử”. Khi nhắc đến tháng 6.90 họ rất cay cú”. Lê Đức Anh thêm vào: “Sau tháng 6.90 lại có phát biểu với báo chí của hai bên nên càng tích tụ thêm, gắng thêm”. (ý nói đến lần sau đàm phán tháng 6.90, giữa tôi và Từ Đôn Tín có sự phê phán nhau trên báo chí). Và đến chiều, khi họp Thường trực BCT bàn về việc đàm phán với Trung Quốc họ chỉ triệu tập anh Niên, không triệu tập tôi.
Được biết trong cuộc họp này TBT Đỗ Mười đã khẳng định là không nên vì vấn đề Campuchia mà cản trở việc bình thường hoá quan hệ của ta với Trung Quốc. Về vấn đề Campuchia, họ chỉ thị cho anh Niên thoả thuận với phía TQ:
1. Không nói về vấn đề diệt chủng. Lê Đức Anh nói phải dứt khoát thôi vấn đề diệt chủng. Và TBT Đỗ Mười nhấn thêm: “Nếu nói vấn đề diệt chủng từ là đồng minh với Mỹ chống Trung Quốc” (!)
2. Nâng cao vai trò SNC Campuchia, hạ thấp vai trò LHQ.
3. giảm quan các bên Campuchia 50%
Để đảm bảo cuộc đàm phán không đi chệch khỏi quỹ đạo đã dàn xếp trước với Trung Quốc. Hồng Hà còn để Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại, ở lại Bắc Kinh để tham gia đoàn đàm phán, thực chất để giám sát Nguyễn Dy Niên có theo đúng những điều họ đã thoả thuận trước với Trung Quốc không.
Ngày 10.8.91, sau khi cái gọi là cuộc đàm phán này đạt kết quả đúng ý Trung Quốc (hoan nghênh Sihanouk giữ chức chủ tịch SNC, ủng hộ văn kiện khung của LHQ về giải pháp Campuchia), vào đúng ngày Quốc hội Việt Nam thông qua việc bổ nhiệm Nguyễn Mạnh Cầm thay Nguyễn Cơ Thạch làm bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham nhận tiếp Nguyễn Dy Niên và ngỏ lời mời tân Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm thăm Trung Quốc ngày 16.9.91 để chuẩn bị cho cuộc gặp cấp cao Trung – Việt ở Bắc Kinh.
Ta đã dự kiến sau cuộc đàm phán ở Bắc Kinh sẽ sang PhnomPenh thông báo cho bạn Campuchia nhưng tối 18.8.91 Hồng Hà lại gọi điện chỉ thị: “Theo ý kiến đồng chí Lê Đức Anh, anh Niên không phải đi Campuchia thông báo với bạn nữa và cũng không thông báo cho bất cứ ai về cuộc đàm phán ở Bắc Kinh vừa qua” (mặc dù phía TQ đã thông báo cho các nước ASEAN và các nước phương Tây rồi). Và còn nói thêm: “Từ nay trở đi, trên giấy trắng mực đen dùng ghi ý đồ của Trung Quốc nữa (?) vì vấn đề này BCT đã nắm rồi.”
Nói chung, từ sau Đại hội VII, tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Trung Quốc như cỗ máy đã được tra dầu đầy đủ, diễn biến trơn tru theo trình tự đã định. Ngày 5-10.11.91, sau khi Hiệp định về Campuchia được ký kết ở Pari, TBT Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức CHND Trung Hoa để hoàn thành việc bình thường hoá mối quan hệ bị trục trặc lớn từ tháng 2.79. Nhưng trong khi lãnh đạo ta ôm kỳ vọng cùng Trung Quốc “bảo vệ CNXH chống đề quốc” thì họ đã xác định quan hệ với ta là “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đầu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau). Trung Quốc nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lãnh thổ lãnh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ ta.
 52 bản 01 viết: [sa thải]

Hồi Ký Trần Quang Cơ (The Memoirs of Tran Quang Co) - Cựu thứ trưởng Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN - Phần 17


17. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CÒN CÓ TRANH LUẬN


1. Về tình hình quốc tế: do tác động của cách mạng KHKT, khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng lớn. Thách thức lớn nhất của nước ta là nguy cơ tụt hậu về kinh tế, yếu tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của quốc gia hiện nay chủ yếu là kinh tế.
a. Có tranh luận: nguy cơ diễn biến hoà bình hơn thách thức tụt hậu về kinh tế. Từ đó có ý kiến cho của quốc gia là sức mạnh an ninh quốc phòng là chủ yếu chứ không phải chủ yếu là sức mạnh kinh tế – xã hội trong mỗi nước.
b. Về mâu thuẫn thời đại: nhiều ý kiến cho rằng những biến đổi lớn trong cục diện thế giới đã làm thay thứ tự quan trọng cuả các mâu thuẫn lớn, mâu thuẫn chính chi phối quan hệ quốc tế ngày nay không còn là mâu thuẫn Đông - Tây mà là mẫu thuẫn Tây – Tây. Nhưng có ý kiến cho mâu thuẫn Tây – Tây vẫn là quan trọng.
c. Về tập hợp lực lượng: ý kiến chung chủ trương đa dạng hoá quan hệ. Nhưng còn tranh luận là tập hợp lực lượng theo ý thức hệ hay theo lợi ích dân tộc, hoặc nói đa dạng hoá nhưng nhấn ý thức hệ, cần tìm đồng minh chiến lược.

2. Về ý đồ và chính sách của các nước lớn và ASEAN:
Mỹ: Về câu hỏi “Cục diện thế giới mới tạo cho Mỹ thời cơ hay thách thức?” (Mỹ mạnh lên hay yếu đi)
Có ý kiến cho rằng Mỹ đang tranh thủ lợi thế để thiết lập trật tự một cục do Mỹ chi phối, ý kiến khác cho rằng đang hình thành “trật tự đa cực”, “đa trung tâm”, hay trật tự thế giới đang trong quá trình hình thành, đang có sự cân bằng giữa các nước lớn.
Mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ là xoá sạch các nước XHCN còn lại hay là kiềm chế các trung tâm kinh tế tư bản khác?
Lý giải hiện tượng các nước khu vực mong muốn Mỹ tiếp tục có mặt sẽ giúp ổn định khu vực, còn Việt Nam cho Mỹ là mối đe doạ nguy hiểm nhất.
Trung Quốc:
Vì sao các nước khu vực đều lo ngại Trung Quốc còn Việt Nam đặt hy vọng vào Trung Quốc (đồng minh chiến lược)?
Mặt bành trướng bá quyền của Trung Quốc là chính hay mặt XHCN là chính? Thực chất của “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”?

Về quan hệ Mỹ - Trung Quốc (liên quan đến Việt Nam):
Dư luận chung: Mỹ lo kiềm chế Trung Quốc ở châu á - Thái Bình Dương và mong Việt Nam góp vào đó. Nhưng có ý kiến cho Mỹ và Trung Quốc thoả hiệp bất lợi cho Việt Nam. Vì Mỹ dặt ưu tiên quan hệ với Trung Quốc cao hơn nên Mỹ sẵn sàng khi Việt Nam cho ưu tiên đó.
Đánh gía về ASEAN:
Có ý kiến cho ASEAN là tổ chức có tiếng nói, có sức sống, biết lợi dụng mâu thuẫn các nước lớn và lợi ích quốc gia vì lợi ích nhóm nước khu vực mình. Việt Nam cần sớm gia nhập tổ chức này.

3. Về chiến lược đối ngoại của ta:
Vị thế của Việt Nam có gì khác trước?
Đe doạ chính đối với an ninh và phát triển của ta nay là gì? Nguy cơ tụt hậu về kinh tế hay nguy cơ diễn biến hoà bình là đe doạ chính?
Biện pháp đối phó với đe doạ và thực hiện mục tiêu của ta? (“đồng minh chiến lược”, “quan hệ đặc biệt”).
Tập trung phát triển kinh tế có phải là lối thoát duy nhất để củng cố ổn định, ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội trong nước và nâng cao vị thế và vai trò nước ta trên quốc tế, đối phó “diễn biến hoà bình” có hiệu quả nhất hay không? Ta đã đặt ưu tiên cao nhất cho phát triển kinh tế hay chưa?
Trong thực tế đối ngoại, thường có sự lúng túng ngập ngừng về ưu tiên trong các mối quan hệ sau:
+ giữa phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh chính trị (giữa nguy cơ tụt hậu về kinh tế và nguy cơ chệch hướng XHCN, nguy cơ bị diễn biến hoà bình).
+ Lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Tập hợp lực lượng và phân biệt bạn – thù theo quan điểm ý thức hệ hay theo lợi ích dân tộc.
+ Độc lập chủ quyền và hợp tác quốc tế. Hoà nhập cộng đồng thế giới. (2/1995)51
 51 Chương 17, bản 03 bỏ.

Hồi Ký Trần Quang Cơ (The Memoirs of Tran Quang Co) - Cựu thứ trưởng Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN - Phần 16


16. MÓN NỢ THÀNH ĐÔ


46[Từ tháng 9.90, Trung Quốc luôn coi ta mắc nợ họ về thoả thuận Thành Đô, đòi ta thực hiện thoả thuận đó,] cụ thể là tác động với PhnomPenh nhận SNC có 13 thành viên và do Sihanouk làm Chủ tịch47. Với cách làm đó, họ khơi sâu thêm bất đồng trong nội bộ ta… Trung Quốc thấy rằng việc thực hiện thoả thuận Thành Đô gặp trở ngại chính từ Bộ Ngoại giao nên chủ trương chia rẽ nội bộ ta càng trắng trợn hơn. Đại sứ mới của Malaysia ngày 3.10.90 đến chào xã giao, nói với tôi là ở Bắc Kinh người ta đưa tin là có sự khác nhau giữa Bộ Ngoại giao và lãnh đạo Đảng về chủ trương đối ngoại cho nên trong chuyến đi Thành Đô gặp cấp cao Trung Quốc không có ông Nguyễn Cơ Thạch. Sau Thành Đô, trong khi ta nới rộng hoạt động của sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam thì phía Trung Quốc lại tỏ ra lạnh nhạt với Bộ Ngoại giao công kích lãnh đạo Bộ Ngoại giao Việt Nam; hạn chế hoạt động của Đại sứ ta ở Bắc Kinh, không sắp xếp Đại sứ ta tham dự vào cuộc Lý Bằng tiếp anh Võ Nguyên Giáp, anh Vũ Oanh; cử cán bộ cấp thấp tiếp và làm việc với Đại sứ ta. Trung Quốc một mặt khẳng định là vấn đề Campuchia chưa giải quyết thì quan hệ Trung - Việt “chỉ có bước đi nhỏ”, mặt khác thăm dò và tích cực tác động đến vấn đề nhân sự và phương án chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ họp vào giữa năm 1991. Từ tháng 3.91, tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc khoá 7, Lý Bằng tuyên bố “quan hệ Trung – Việt đã tan băng” và có một số điều chỉnh mềm dẻo hơn trong vấn đề Campuchia. Về vấn đề SNC của Campuchia. Trung Quốc không cố bám giữ con số 13, tạm gác vấn đề chủ tịch, phó chủ tịch, đưa ra công thức “Sihaouk chủ trì các cuộc họp SNC”. Từ chỗ chỉ có quan hệ với 3 phái, sau cuộc gặp SNC ở Pattaya (Thái Lan), Trung Quốc chuyển sang quan hệ trực tiếp với Nhà nước Campuchia, mời Hunxen thăm Bắc Kinh trong 3 ngày (22-24.7.91).48
Chiều chủ nhật 18.11.90 họp BCT về vấn đề Campuchia. Từ sau khi P5 thoả thuận về văn kiện khung (28.8.90) cuộc đấu tranh về vấn đề Campuchia đi vào giai đoạn cuối, gay gắt và quyết liệt. Thay mặt Bộ Ngoại giao, tôi trình bày đề án về nguyên tắc đấu tranh về văn kiện khung của P5 và về vấn đề SNC để BCT cho ý kiến. Khi tôi trình bày xong, anh Thạch đề nghị BCT khẳng định 2 điểm:
1. Vấn đề SNC là vấn đề nội bộ của Campuchia, ta không ép bạn được, phải tôn trọng chủ quyền của bạn;
2. Về văn kiện khung, ta phải bác những điểm vi phạm Hiến chương LHQ. Nếu không sau này có ảnh hưởng đến vấn đề xử lý Trường Sa... Ta thấy rõ Trung Quốc và Mỹ đều nhất trí xoá Nhà nước Campuchia bằng cách khác nhau.
Cuối cuộc họp, TBT Linh kết luận: về SNC ta không thể góp ý với bạn được... Nếu nói Trung Quốc và Mỹ như nhau thì tôi không đồng ý. Sau hội nghị Trung ương, BCT sẽ đánh giá lại một số vấn đề liên quan đến Ngoại giao như nhận định về Trung Quốc thế nào, tuyên bố hoặc nói về Trung Quốc như thế nào ? Nguyễn Cơ Thạch nói luôn:Đồng ý đánh giá lại cả cuộc hội đàm ở Thành Đô.
Dự thảo Hiệp định toàn bộ về Campuchia ngày 26.11.90 do P5 thảo ra đã được các thành viên SNC Campuchia chấp nhận về cơ bản tại cuộc họp ở Paris ngày 23.12.90. Chủ trương của ta là giải pháp chính trị về Campuchia, nhất là những vấn đề nội bộ Campuchia, phải do bạn tự quyết định và chịu trách nhiệm với dân tộc Campuchia. Ta hết sức giúp đỡ họ, gợi ý để họ tránh được những thất bại không đáng có, nhưng ta không thể làm thay. Như vậy ta vừa hết lòng giúp bạn vừa không để Việt Nam một lần nữa bị sa lầy vào cuộc đấu tranh nội bộ của Campuchia. Không để vấn đề giải pháp chính trị về Campuchia lại một lần nữa trở thành vấn đề lịch sử trong quan hệ Việt Nam – Campuchia.
Theo yêu cầu của bạn, ngày 14.1.91, tôi cùng các anh Huỳnh Anh Dũng, Lê Công Phụng, Vũ Tiến Phúc, chuyên viên về giải pháp Campuchia, sang PhnomPenh làm việc với bạn với mục đích:
a. Tìm hiểu suy nghĩ và ý định của bạn về giải pháp Campuchia sau khi bạn đã chấp nhận văn kiện khung của P5 tại cuộc họp Jakarta 10.9.90 và chấp nhận về cơ bản dự thảo Hiệp định 26.11 của P5 tại cuộc họp Paris 23.12.90;
b. Thuyết phục bạn kiên quyết tách riêng các vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền Campuchia để chỉ thaỏ luận và giải quyết trong SNC;
c. Thoả thuận kế hoạch chuẩn bị cho việc họp lại Hội nghị quốc tế Paris.
Khi tiếp tôi, anh Hunxen nói: “Trong nội bộ Campuchia, xu hướng mạnh nhất là muốn có một giải pháp chính trị giữ được thành quả cách mạng, không để cho Polpot quay trở lại... Tình hình hiện nay rất tế nhị. Tình hình phức tạp sẽ xảy ra nếu ta chấp nhận một giải pháp vô nguyên tắc. Chỉ cần chấp nhau một giải pháp như vậy thì nội bộ Campuchia đã hỗn loạn rồi chứ chưa nói là ký kết. Ta giữ lập trường cứng như vừa qua là tốt. Đề nghị Việt Nam không để đẩy quá nhanh tiến trình giải pháp.
Như vậy, qua các cuộc gặp Bộ trưởng Hor Nam Hong, thứ trưởng Dith Munty và thứ trưởng Sok An, nhất là qua phát biểu của Chủ tịch Hunxen chiều 16.11, có thể thấy được chủ trương của bạn cố kéo dài trạng thái đánh đàm hiện tại vì nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau, song chủ yếu vì trong nội bộ lãnh đạo bạn xu hướng chưa muốn đi vào giải pháp còn rất mạnh. Hunxen cho biết theo quyết định của BCT Campuchia, trong cuộc họp Trung ương ngày 17.1.91, ông ta sẽ thông báo cho Trung ương là “năm 1991 sẽ chưa có giải pháp”. Tuy nhiên, tôi lại có cảm thấy trong suy nghĩ cũng như trong hành động lãnh đạo Campuchia đang có nhiều mâu thuẫn lúng túng, chưa xác định được cho mình một đường lối rõ ràng mạch lạc, mà chỉ lo đối phó từng bước với những vấn đề trong nội bộ cũng như với đối phương.
Trong lần gặp Heng Somrin ở Hà Nội ngày 24.2.91, anh Nguyễn Văn Linh vẫn cố ép bạn “cần thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề diệt chủng, nên SNC gồm 13 thành viên và Sihanouk làm Chủ tịch”. Heng Somrin về nói lại với BCT Đảng Campuchia thì tất cả đều băn khoăn và ngại rằng Heng Somrin không thạo tiếng Việt nên nghe có thể sai sót. Thực ra, như Hunxen nói với anh Ngô Điền, khi nghe Heng Somrin nói lại những ý kiến của anh Linh, BCT Campuchia rất lo vì thấy Việt Nam khác Campuchia nhiều quá. Ngày 13.3.91 Hunxen nói với anh Thạch: “Có thể có sách lược phân hoá Khmer đỏ, nhưng dứt khoát không thể bỏ vấn đề diệt chủng. Nếu bỏ sẽ có 3 mối nguy hiểm: sẽ mất con bài mặc cả trong đàm phán ngay từ đầu; mất lợi thế trong tổng tuyển cử; kẻ thù sẽ có lợi trong việc vu cáo Việt Nam là mọi chuyện xảy ra 12 năm qua đều do Việt Nam gây ra cả. Số lượng thành viên SNC có thể là 12 hoặc 14, không thể chấp nhận con số 13, sẵn sàng cho Sihanouk làm chủ tịch, Hunxen làm phó, không đòi chức chủ tịch luân phiên hay đồng chủ tịch nữa”.
Trong cách làm này của ta cho thấy ta chỉ quan tâm đến điều mà ta cho là có lợi ích đối với ta mà thiếu cân nhắc xem điều đó có phù hợp với lợi ích của bạn không. Cách làm đó tất yếu ảnh hưởng xấu đến quan hệ gắn bó lâu nay giữa ta với PhnomPenh.
Đầu năm 1991, BCT đã có cuộc họp tại T78 thành phố HCM (24-25.1.91) để bàn về vấn đề Campuchia. Tôi trình bày chủ trương tách mặt quốc tế với mặt nội bộ của giải pháp Campuchia, đồng thời báo cáo ý kiến của Hunxen cho biết là BCT Campuchia quyết định không đi vào giải pháp trong năm 1991. BCT quyết định cần thăm dò khả năng họp BCT 3 nước để hướng Campuchia đi vào giải pháp, họp có tính chất trao đổi, gợi ý chứ không quyết định, ta không thể ép bạn, đồng thời phải tỏ được thiện chí, tránh mọi việc làm ta bị cô lập.
Nhân dịp này, tôi đã ngỏ ý với anh Thạch là tôi muốn rút khỏi Trung ương khoá tới. Anh Thạch tỏ ý không tán thành. Đến tháng 2.91, khi có cuộc bầu đại biểu ở các tỉnh để đi dự Đại hội VII, tôi đã gửi thư cho anh Nguyễn Đức Tâm, trưởng ban Tổ chức Trung ương, xin rút khỏi danh sách dự Đại hội VII. Lúc này tinh thần tôi đã có phần mệt mỏi vì những sự việc trong thời gian qua. Nhưng yêu cầu của tôi không được đáp ứng. Tôi nhận được giấy đi dự Đại hội tỉnh Đảng bộ Sơn la và được bầu vào Đoàn đại biểu tỉnh Sơn la đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.Tháng 6.91, tôi có giấy đi dự Đại hội Đảng với tư cách đại biểu tỉnh Sơn La rồi tiếp
tục tham gia Trung ương khoá VII.
Tình hình bất đồng ý kiến trong BCT càng đến gần Đại hội càng bộc lộ gay gắt. Ngày 13.4.91, trong cuộc họp BCT bàn về tình hình thế giới và đường lối đối ngoại để chuẩn bị báo cáo chính trị tại Đại hội, sau khi anh Thạch bản báo cáo về “Tình hình thế giới và chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”, Lê Đức Anh giới thiệu đại tá Lân, cán bộ Cục II Bộ Quốc phòng, trình bày về tình hình thế giới và mưu đồ đế quốc”. Nghe xong, TBT Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chủ quan tôi nghĩ giữa bản trình bày sáng nay (của Bộ Ngoại Giao) và bản trình bày tình hình quân sự chiều nay của Bộ Quốc phòng có nhiều chỗ khác nhau. Muốn thảo luận chủ trương thì phải thảo luận tìnhhình trước, nhưng cách đánh gia tình hình còn khác nhau”
Cố vấn Phạm Văn Đồng: “Nói khôi hài lúc này thật không phải lẽ. Chúng ta cần cố gắng làm việc đúng lương tâm, nghiêm chỉnh, đúng trách nhiệm của mình. BCT đã giao cho 3 đồng chí phụ trách 3 ngành làm nhưng lại chưa làm”.
Lê Đức Anh: “BCT nên nghe tình hình nhiều mặt, ngay trong nước chúng ta cũng đánh giá khác nhau. Căn cứ vào đánh gía chung, mỗi ngành có đề án riêng, không làm chung được”. Nguyễn Cơ Thạch đồng ý 3 ngành thảo luận để đi tới nhất trí về tình hình, còn công tác thì mỗi ngành làm.
Trên tinh thần đó, ngày 2.5.91, đã có cuộc họp giữa Ngoại giao, An ninh và Quốc phòng để thống nhất nhận định tình hình thế giới. Dự họp về phía Quốc phòng có: Lê Đức Anh, Trần Văn Quang, Đại tá Lân (thường gọi là Lân thọt), Bộ Nội vụ có: Mai Chí Thọ; Ngoại giao có Nguyễn Cơ Thạch và 4 thứ trưởng. Còn 3 phó ban đối ngoại: Nguyễn Thị Bình, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Quang Tạo. Thu hoạch của cuộc họp khá nghèo nàn, không đem lại được sự nhất trí trong nhận định tình hình, chỉ nhất trí được mấy điểm lý luận chung chung.
Chỉ còn một tháng đến ngày họp Đại hội VII, BCT họp liền gần 3 ngày (15,16 và 17.5.91) để thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về tình hình thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”. BCT có mặt đông đủ. Theo dõi cuộc họp ở ghế dự thính. Số dự thính lúc đầu có 10 người, từ chiều 16.5 khi đi vào kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết về đối ngoại của Đại hội VI thì dự thính thu hẹp lại chỉ còn có Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Đinh Nho Liêm và tôi). Từ đầu đến cuối, tôi đã nhận rõ sự đấu tranh giữa hai quan điểm về mặt quốc tế, nhất là khi đi vào phần kiểm điểm thực hiện đường lối đối ngoại, nói đến vấn đề Campuchia và quan hệ với Trung Quốc. Bản dự thảo báo cáo của Bộ Ngoại giao có nêu “đã có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị”, “thái độ đối với Trung Quốc có sự thay đổi qua 2 giai đoạn (trước và sau năm 1989) trái với Nghị quyết 13 của BCT (20.5.88)”, 49giữa ta và bạn Campuchia50 đã bộc lộ sự khác nhau khá rõ rệt”, về đối ngoại, ta “lúng túng, thiếu bình tĩnh” trước cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô...; đã bỏ lỡ cơ hội cải thiện với ASEAN (khi Thái Lan mời Thủ tướng Đỗ Mười sang thăm, nhưng anh Mười nói phải đi Liên Xô, đi Ấn Độ rồi mới đi Thái), đã làm nảy sinh tranh cãi khá căng, đặc biệt khi bàn đến đúng sai trong chuyện gặp cấp cao Trung Quốc ở Thành Đô tháng 9.90 và vấn đề chống diệt chủng và “giải pháp Đỏ”.
Anh Võ Chí Công: “Về Trung Quốc rất phức tạp... BCT đã đánh giá Trung Quốc có hai mặt XHCN và bá quyền. Về XHCN cũng cần thấy là trong “nháy nháy”... Khó khăn là chưa bình thường hoá quan hệ... Họ đưa ra 5 trở ngại, có cái hàng trăm năm không giải quyết nổi. Ví dụ như chuyện “Liên bang Đông Dương”, họ biết ta không có ý đồ đó song cứ nêu lên cốt để chia rẽ và giành lấy Lào và Campuchia, gạt ta ra... Chuyện “giải pháp Đỏ” là không được, vì như vậy thì có nghĩa là Trung Quốc sẽ đi với ta chống Mỹ trong lúc chủ trương của họ là tranh thủ khoa học – kỹ thuật của phương Tây để hiện đại hoá, còn gì là Trung Quốc nữa ?
Tới cuối cuộc họp, Nguyễn Đức Tâm còn nói: “Chưa làm dự thảo Nghị quyết ngay được vì qua thảo luận thấy ý kiến BCT còn khác nhau về đánh giá đúng thành tích, đúng bạn thù, đối sách. Đại hội đến nơi, sau Đại hội không còn BCT này nữa, tuy một số đồng chí còn ở lại... Mặc dù vậy Nguyễn Thanh Bình chủ trì cuộc họp vẫn kết luận làm dự thảo Nghị quyết về đối ngoại.
 46 Phần [ ], bản 01 viết: [Từ sau cuộc gặp Thành Đô, yêu sách chính của Trung Quốc đối với ta về vấn đề Campuchia chủ yếu là thực hiện thoả thuận Thành Đô,]
47 bản 01 thêm: [chấp nhận văn kiện của P5].
48 bản 01 thêm: [Những thoả thuận cấp cao ở Thành Đô đã trở thành vô nghĩa.]
49 bản 01 thêm: “một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia”,
50 bản 01 viết: Lào

Y án 18 năm tù với Lê Văn Luyện

Chiều 30/3, Hội đồng xét xử đã y án 18 năm tù với Lê Văn Luyện và kết luận không có dấu hiệu đồng phạm trong vụ cướp tiệm vàng Ngọc Bích. Luật sư của bị hại cho biết, sẽ tiếp tục gửi đơn lên Chánh án TAND tối cao.

* Clip: Lê Văn Luyện bị người nhà nạn nhân hành hung
* Clip: Những tình tiết mới trong vụ Lê Văn Luyện
Phiên làm việc chiều 30/3 bắt đầu với phần tranh tụng. Luật sư Nguyễn Bá Ngọc (bào chữa cho Luyện) cho rằng nên giữ nguyên mức 18 năm tù đối với Lê Văn Luyện. Hành vi của bị cáo xuất phát từ lối sống không lành mạnh.
Bào chữa cho các bị cáo Lược, Hợp, Hồng, Định, Nghi, luật sư Sơn cho rằng tòa sơ thẩm chưa ghi nhận hết tình tiết giảm nhẹ. Các bị cáo do không hiểu biết pháp luật nên mới phạm tội. Trong đó, bị cáo Lược đang phải nuôi con nhỏ, bị cáo Hồng bị bệnh và đã hai lần phải phẫu thuật, sức khoẻ yếu.
"Hình phạt dành cho các bị cáo chỉ nên răn đe cũng đủ tác dụng giáo dục", ông Sơn trình bày.
Trong khi các luật sư trình bày quan điểm bào chữa cho các bị cáo, gia đình bị hại liên tục la ó. Chủ toạ đã phải nhắc nhở, đó chỉ là quan điểm riêng của luật sư, còn việc quyết định là do Hội đồng xét xử.
Luyện ngồi cạnh bố tại tòa. Ảnh: Hoàng Hà
Đại diện cho gia đình bị hại, luật sư Phạm Thanh Huỳnh lên tiếng, bản án sơ thẩm đã "bỏ sót" nhiều chi tiết, chưa vạch rõ hết tội danh của Luyện. "Bị cáo Luyện ngoài cướp tài sản, giết 3 người, còn gây tổn hại hơn 60% sức khoẻ cho cháu Bích. Cần phải tuyên Luyện 3 tình tiết trên "kịch khung", ông Huỳnh nói.
Theo luật sư Huỳnh, Luyện trước sau chỉ thừa nhận hành vi dùng dao phớ chứ không dùng hung khí khác. Tuy nhiên, khi khám nghiệm nạn nhân Chín, ngoài các vết thương do vết dao phớ chém, còn có các dấu vết hình móng ngựa. "Cơ chế tạo vết thương này do vật sắc nhọn khác gây ra", luật sư Huỳnh trích dẫn. Ông Huỳnh đề nghị HĐXX cân nhắc xem xét tình tiết trên.
Cũng như buổi sáng, luật sư Huỳnh tiếp tục trích lời khai ban đầu của Luyện về việc bị gia đình nhà hàng xóm của anh Ngọc soi đèn pin khi hắn ở trên nóc nhà. Ông Huỳnh cũng đề cập đến chiếc ôtô lạ xuất hiện trước cửa nhà nạn nhân hôm xảy ra vụ án và cho rằng chi tiết này cơ quan điều tra chưa làm rõ.
Đối với hai bị cáo Hợp và Nghị, theo luật sư phải tuyên các bị cáo này hai hành vi "che giấu tội cướp tài sản và che gíấu về hành vi giết người". Ngoài ra, cần phải truy tố Nghị thêm tội danh "tổ chức cho người khác ra nước ngoài trái phép".
Cũng bảo vệ cho quyền lợi bị hại, luật sư Trần Chí Thanh "mong cơ quan chức năng xem xét bị cáo có đồng phạm hay không?". "Theo khai nhận sáng nay, Luyện có nói đến việc thuê phòng tại một nhà nghỉ ở Đồi Ngô. Bị cáo không nhớ tên nhà nghỉ này nhưng nếu có thể được đưa đến đó anh ta sẽ nhận ra. Cần phải xác minh xem Luyện có thuê nhà nghỉ ở đó và ở với ai", luật sư Thanh trình bày.
Ông Thanh cũng đề cập chi tiết Luyện khai sau khi gây án, lấy tài sản đã gọi cho hai hãng taxi trước khi điện cho anh họ (Hồng). "Có hay không việc những chiếc xe đó là đồng bọn của Luyện chứ không phải taxi thật", luật sư Thanh nêu nghi vấn.
Ảnh: Hoàng Hà.
Ông Trịnh Văn Tín, bố đẻ của chủ tiệm vàng bị hại thể hiện sự bức xúc tại tòa. Ảnh: Hoàng Hà.
Đáp lại ý kiến luật sư, ông Nguyễn Hoài Năm đại diện VKS cho rằng, bản án sơ thẩm dành cho các bị cáo Lược, Hồng, Hợp... là có căn cứ, dù các bị cáo không phải là người trực tiếp tham gia vụ án. Về đề nghị truy tố thêm bị cáo Nghị tội danh tổ chức người ra nước ngoài trái phép, VKS không đồng tình.
Trả lời về vết thương "lạ" hình móng ngựa, VKS cho rằng vết thương trên người anh Ngọc chứ không phải trên người chị Chín. Ngay lập tức, người nhà bị hại ào ào phản đối. "Chúng tôi từng tắm cho em Chín, tại sao lại nói vết thương trên người em Ngọc. Lần xử thứ hai mà chưa xác đáng, chúng tôi sẽ cho 'nhân chứng sống' là cháu Bích ra toà", một phụ nữ chít khăn tang nói vọng lên.
Theo đại diện VKS, cơ quan điều tra đã thu giữ hình ảnh lưu trữ trong camera không có chứng cứ việc vợ chồng anh Ngọc cho vàng vào túi. Tuy nhiên, theo gia đình bị hại, những hình ảnh đó thu được 7 ngày trước khi vụ án xảy ra chứ không phải ngay hôm Luyện gây án.
"Tôi vẫn bảo lưu quan điểm về việc bồi thường cho gia đình bị hại như phán quyết của cấp sơ thẩm", đại diện VKS kết thúc phần đối đáp. Trước đó, gia đình nạn nhân yêu cầu mức bồi thường 200 triệu đồng thuốc men cho bé Bích và bồi thường về tinh thần 500 triệu đồng.
Cuối phần tranh trụng, luật sư Phạm Thanh Huỳnh vẫn giữ quan điểm về vết thương hình móng ngựa trên người chị Chín và đề nghị làm rõ cơ chế tạo nên chúng và ai đèo Luyện trước khi gây án.
Ông Huỳnh cũng chất vấn: "Khi thu giữ vật chứng, cơ quan chức năng phải rõ ràng việc định lượng, cân đo không thể ào ào làm để rồi xảy ra tình trạng việc "thừa" 24 chiếc nhẫn".
Luyện gạt mồ hôi trong khi nói lời cuối cùng. Chủ tọa phải 3 lần yêu cầu Luyện nói to hơn. Ảnh: Hoàng Hà.
Trong khi các bên đối đáp, Luyện cúi gằm mặt, thỉnh thoảng cậy móng tay. Cũng giống với phiên sơ thẩm, khi nói lời sau cùng, Luyện lí nhí: "Bị cáo có lỗi với xã hội, gia đình, nạn nhân, mong mọi người tha thứ. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt".
Sau khi hội ý, chủ tọa phiên tòa kết luận, hành vi của bị cáo Luyện là dã man, gây hoang mang trong dư luận, bức xúc cho người dân. Cho đến thời điểm kết thúc điều tra, không có dấu hiệu Luyện có đồng phạm. Tại phiên toà phúc thẩm, Luyện luôn nhất quán khai nhận về hành vi phạm tội. Tòa giữ nguyên mức án sơ thẩm.
Đối với 6 bị cáo còn lại, dù biết Luyện phạm tội đặc biệt nguy hiểm, nhưng không tố giác, cố tình che giấu. Do đó, tòa bác kháng cáo xin giảm án
"Việc luật sư đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không có cơ sở. Tòa chấp nhận một phần kháng cáo về tiền bồi thường đối với gia đình bị hại, tuyên phạt Luyện 18 năm tù về tội giết người, 18 năm cướp, 9 tháng tù về lam dụng. Tổng hợp hình phạt là 18 năm tù", chủ tọa kết luận.
17h30 chiếc xe tù lao vun vút đưa Luyện trở về trại giam. Luật sư phía gia đình bị hại cho biết, sẽ gửi đơn lên Chánh án TAND tối cao và kiến nghị công an tỉnh Bắc Giang và VKSND điều tra nghi vấn Luyện có đồng phạm.
* Clip: Lê Văn Luyện trước phiên xét xử
* Ảnh: Phiên xử phúc thẩm Lê Văn Luyện (Ngoisao.net)
Hai tháng trước, ngày 10-11/1, TAND tỉnh Bắc Giang đã mở phiên tòa sơ thẩm đối với Lê Văn Luyện, thủ phạm gây ra vụ thảm sát tiệm vàng Ngọc Bích (thị trấn Sàn, tỉnh Bắc Giang). Bố đẻ cùng cô chú, anh họ của Luyện cũng bị ra trước vành móng ngựa về các tội che giấu, không tố giác tội phạm.
Bản án sơ thẩm xác định, rạng sáng 24/8/2011, Luyện đột nhập tiệm vàng Ngọc Bích, cắt hệ thống camera, chuông báo động, đâm chết vợ chồng chủ tiệm. Con gái lớn của họ (bé Bích) bị chém đứt lìa tay phải, bé út bị giết. Luyện vơ vét 200 chỉ vàng ta, gần 153 chỉ vàng tây trong tủ trưng bày ở tầng 1, tổng giá trị tài sản hơn 1,27 tỷ đồng.
Theo TAND Bắc Giang, hồ sơ vụ án, kết quả khám nghiệm cho thấy không có cơ sở xác định Luyện có đồng phạm. Lời khai của Luyện về việc đột nhập tiệm vàng trùng với kết quả thực nghiệm hiện trường. Các vết chém trên người 4 nạn nhân khi khám nghiệm cũng khớp với lời khai hung thủ.
Với những phân tích trên, HĐXX cho rằng cáo trạng truy tố Luyện về 3 tội danh là có cơ sở. Luyện bị phạt 18 năm về tội giết người, 18 năm cho tội cướp tài sản, 9 tháng tù do lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, do bị cáo gây án khi chưa đến tuổi thành niên (17 tuổi, 10 tháng 6 ngày) nên tổng hợp các hình phạt không quá 18 năm tù.
6 bị cáo còn lại của vụ án gồm: Lê Văn Miên (bố Luyện) lĩnh án 48 tháng tù do che giấu tội phạm; đồng phạm Trương Thanh Hồng và Lê Thị Định bị phạt lần lượt 30 tháng, 15 tháng. Do không tố giác tội phạm, bị cáo Lê Thành Nghi bị phạt 15 tháng, Trương Văn Hợp 12 tháng và Dương Thị Lược 9 tháng.
Ngay sau phiên sơ thẩm, đại diện gia đình bị hại đã làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

50 cán bộ bị xử lý trong vụ Tiên Lãng

Theo thông cáo chiều 29/3 của Thành ủy Hải Phòng, 50 cán bộ đã bị kiểm điểm, xử lý trong vụ thu hồi, cưỡng chế đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn. Tập thể Ban cán sự Đảng UBND thành phố cũng bị kỷ luật khiển trách.

Ông Nguyễn Văn Hiền - nguyên Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng. Ảnh: Hà Anh.
Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền bị cách chức. Ảnh: Hà Anh.
Trước đó, Ban thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã họp nghe Ủy ban Kiểm tra Thành ủy báo cáo kết quả kiểm điểm, xử lý các cá nhân và tập thể có liên quan đến vụ cưỡng chế thu hồi đất tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng.
Đến ngày 25/3 đã có 50 cán bộ, đảng viên, nhân viên và 25 tổ chức có liên quan tiến hành kiểm điểm, xử lý nghiêm túc.
Trong số này, huyện Tiên Lãng có 16 tổ chức, 17 cá nhân bị kiểm điểm và xử lý kỷ luật. Nặng nhất là chủ tịch và phó chủ tịch huyện bị cách chức.
Các cơ quan, ban, ngành thành phố có 9 tổ chức, 33 cá nhân kiểm điểm. Các tổ chức đã kiểm điểm nghiêm túc và rút kinh nghiệm gồm: Ban Cán sự đảng UBND, Ban Cán sự đảng TAND, Ban Cán sự đảng VKSND, Đảng ủy Văn phòng UBND thành phố, Đảng ủy Sở Tài nguyên và Môi trường, Đảng ủy Thanh tra, Đảng ủy Công an, Đảng ủy Bộ Chỉ huy Quân sự, Đảng ủy Sở Thông tin và Truyền thông, Đảng ủy Ban Tuyên giáo Thành ủy.
Ban Thường vụ Thành ủy đã thông qua bản báo cáo tự kiểm điểm của tập thể Ban Thường vụ Thành ủy và một số ủy viên Ban Thường vụ, đồng thời thông qua nghị quyết thi hành kỷ luật khiển trách đối với tập thể Ban cán sự Đảng UBND thành phố. Hai cán bộ thuộc diện Thành ủy quản lý là lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường cũng bị khiển trách.
Liên quan đến vụ cưỡng chế đầm nhà ông Đoàn Văn Vươn từ tháng 1, UBND thành phố đưa ra mốc thời gian chậm nhất là 31/3 sẽ có kết quả thực hiện để báo cáo Thủ tướng.

Thanh tra huyện Tiên Lãng: 'Ông Vươn có một số sai phạm'

Chiều 28/3, Thanh tra huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) cho biết, trong quá trình sử dụng đất, ông Đoàn Văn Vươn đã sử dụng lấn chiếm 19,3 ha, chặt phá rừng phòng hộ, cho thuê lại diện tích đất. Kết luận thanh tra đã không nhận được đồng tình của gia đình ông Vươn.

Chiều 28/3, bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Đoàn Văn Vươn) và bà Nguyễn Thị Hiền (vợ ông Đoàn Văn Quý) đến trụ sở UBND xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng để nghe đoàn thanh tra huyện công bố kết luận thanh tra, rà soát việc sử dụng đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn.
Theo ông Đỗ Như Tuyến, Phó đoàn thanh tra huyện, do ông Vươn đang bị tạm giữ, bà Thương không cung cấp bất cứ tài liệu nào liên quan đến việc sử dụng đất, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, vì vậy UBND huyện Tiên Lãng kết luận thanh tra trên cơ sở chứng cứ xác minh với các cơ quan, cá nhân có liên quan và tài liệu do đoàn thanh tra thu thập.
thong bao
Bà Nguyễn Thị Thương và Nguyễn Thị Hiền tại buổi công bố kết luận thanh tra. Ảnh: Thái Thịnh.
Kết luận thanh tra nêu rõ, gia đình ông Đoàn Văn Vươn được UBND huyện giao 40,3 ha đất tại xã Vinh Quang để nuôi trồng thủy sản. Trong quá trình sử dụng đất, ông Vươn đã có một số sai phạm như: sử dụng lấn chiếm 19,3 ha, chặt phá rừng phòng hộ, cho thuê lại diện tích đất. 3 sai phạm này đã được xử lý dứt điểm. Riêng khoản nợ tiền sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2007 với số tiền hơn 10 triệu đồng, đoàn thanh tra yêu cầu ông Vươn cần chấp hành đầy đủ.
Sau buổi công bố kết luận thanh tra, trao đổi với báo chí, bà Nguyễn Thị Thương bày tỏ sự không đồng tình. Theo bà, việc cho thuê đất là không sai vì khi đã được giao gia đình bà có thể cho thuê lại.
Liên quan đến vụ cưỡng chế đầm nhà ông Đoàn Văn Vươn từ tháng 1, UBND thành phố đưa ra mốc thời gian chậm nhất là 31/3 sẽ có kết quả thực hiện để báo cáo Thủ tướng.
Ngày 5/1, khi hơn 100 cảnh sát, bộ đội cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, một số người đã gài mìn tự chế trong vườn, cầm súng hoa cải chống lại. Bốn cảnh sát và hai cán bộ huyện đội bị thương, trong số này có người đứng đầu công an huyện Tiên Lãng.
Ngày 10/1, 4 bị can gồm: Đoàn Văn Quý (46 tuổi), Đoàn Văn Vươn (49 tuổi), Đoàn Văn Sịnh (55 tuổi) và Đoàn Văn Vệ (38 tuổi) bị khởi tố, bắt tạm giam về tội giết người. Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) và Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ, song được tại ngoại và cho áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú.
Ngày 10/2, sau cuộc họp với các bộ ngành, Thủ tướng kết luận, các quyết định thu hồi, cưỡng chế 19,3 ha đầm tôm của gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang đều trái luật và yêu cầu sớm khởi tố, điều tra cán bộ đã chỉ đạo phá nhà ông Vươn.

Chủ tịch Hải Phòng bị kiểm điểm về vụ Tiên Lãng

Ngày 27/3 Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã tổ chức kiểm điểm Chủ tịch UBND thành phố Dương Anh Điền và Phó chủ tịch Đỗ Trung Thoại về trách nhiệm trong vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng ngày 5/1.

Tại cuộc họp, lãnh đạo UBND Hải Phòng đã kiểm điểm về việc chấp thuận đề nghị cưỡng chế thu hồi đất không đúng pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng, chậm chỉ đạo làm rõ đúng sai sau khi sự việc xảy ra và báo cáo chưa đầy đủ, nghiêm túc với Thủ tướng.
Cán bộ chủ chốt liên quan đến vụ việc nhận hình thức kiểm điểm cá nhân gồm ông Dương Anh Điền và ông Đỗ Trung Thoại.
Chủ tịch UBND Hải Phòng Dương Anh Điền. Ảnh: Việt Anh
Liên quan đến vụ cưỡng chế thu hồi đất của ông Đoàn Văn Vươn, cuối tháng 2, Thành ủy, UBND TP Hải Phòng đã công bố quyết định cách chức đối với các ông Lê Văn Hiền và Nguyễn Văn Khanh, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng. Bí thư và chủ tịch UBND xã Vinh Quang cũng bị kỷ luật.
Công an Hải Phòng đã ra quyết định khởi tố vụ án hủy hoại tài sản nhà ông Vươn nhưng hiện vẫn chưa khởi tố bị can.
Ngày 5/1/2012, khi hơn 100 cảnh sát, bộ đội cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, một số người đã gài mìn tự chế trong vườn, cầm súng hoa cải chống lại. Bốn cảnh sát và hai cán bộ huyện đội bị thương, trong số này có người đứng đầu công an huyện Tiên Lãng.
Ngày 10/1, 4 bị can gồm: Đoàn Văn Quý (46 tuổi), Đoàn Văn Vươn (49 tuổi), Đoàn Văn Sịnh (55 tuổi) và Đoàn Văn Vệ (38 tuổi) bị khởi tố, bắt tạm giam về tội giết người. Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) và Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ, song được tại ngoại và cho áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú.
Ngày 10/2, sau cuộc họp với các bộ ngành, Thủ tướng kết luận, các quyết định thu hồi, cưỡng chế 19,3 ha đầm tôm của gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang đều trái luật và yêu cầu sớm khởi tố, điều tra cán bộ đã chỉ đạo phá nhà ông Vươn.

Gia đình chủ tiệm vàng đề nghị hủy án

Cuối phiên xử sáng nay, gia đình chủ tiệm vàng Ngọc Bích đã đề nghị tòa hủy án, điều tra làm rõ những mâu thuẫn trong lời khai của Lê Văn Luyện.
Tuy nhiên, đại diện Viện KSND tối cao tái khẳng định, Luyện không có đồng phạm.

7h, bạn bè, người thân của gia đình anh Ngọc (chủ tiệm vàng Ngọc Bích) và cả trăm người dân đã đổ về TAND tỉnh Bắc Giang. Những hình ảnh bé Trịnh Ngọc Bích, nạn nhân sống sót duy nhất trong vụ thảm sát tiệm vàng ở phố Sàn được người nhà mang theo. Hôm nay, bé Bích không đến dự phiên tòa.
Để đảm bảo an ninh, Công an tỉnh Bắc Giang đã bố trí hơn 200 cán bộ tham gia bảo vệ trực tiếp từ khu vực cổng toà án vào phòng xét xử. Khoảng 100 cán bộ, chiến sĩ chịu trách nhiệm an ninh vòng ngoài, chốt chặn các tuyến đường dẫn đến tòa án. Hàng rào thép đã được giăng ngay từ hai đầu phố Hoàng Văn Thụ.
Ảnh:
8h sáng, Lê Văn Luyện được đưa vào phòng xét xử. Ảnh: Hoàng Hà.
8h, Luyện bị dẫn giải vào phòng xử trong tiếng la ó của người nhà bị hại. Sát thủ này nhìn gầy, đen hơn so với phiên sơ thẩm. Sau những phút bức xúc, gia đình nạn nhân đã giữ trật tự. Luyện được đưa vào căn phòng phía sau phòng xử án.
8h20, Luyện được dẫn trở lại phòng xử án. Căn phòng im phăng phắc khi chủ tọa Nguyễn Đức Nhận - thẩm phán TAND Tối cao bắt đầu phiên xử, công bố lại bản án và mức án trong phiên xử trước. Theo quy định, sau phiên phúc thẩm lần này, gia đình bị hại không có quyền kháng án. Nếu không đồng ý với bản án phúc thẩm, gia đình có quyền gửi đơn lên Chánh án TAND tối cao.
8h45, Luyện cúi gằm mặt nghe bản án cũ, người nhà bị hại phía dưới sụt sịt khóc khi một lần nữa nghe lại quá trình gây tội ác của Luyện với người thân của mình.
Đứng trước vành móng ngựa, còn có bố bị cáo Luyện, ông Lê Văn Miên và các bị cáo Dương Thị Lược, Trương Văn Hợp... . Những người này làm đơn kháng cáo với hy vọng được cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội chăm sóc gia đình, con cái.
9h, tòa bắt đầu thẩm vấn với các câu hỏi về việc chuẩn bị hung khí gây án. Luyện khai, đã chuẩn bị dao phớ, đèn pin và quá trình thăm dò tiệm vàng Ngọc Bích. Phía dưới, gia đình nạn nhân la ó bức xúc khiến chủ toạ phải nhắc nhở.
"Bị cáo ngồi tại góc nhỏ ở phố Sàn đợi đến đêm khuya. Lúc ấy trời gần mưa, bị cáo quay lại tiệm vàng, ngồi đối diện với hiệu bánh mỳ ngay sát nhà nạn nhân, rồi trèo lên cây, qua mái tôn, đột nhập vào", Luyện kể.
Luyện dùng đèn pin soi các phòng tầng 2-3 rồi xuống tầng 1, sau đó lên tầng 3 ngồi đợi. Lúc này, Luyện phát hiện anh Ngọc (chủ tiệm vàng) bê đồ lên, hắn nấp sau cánh cửa rồi vào phòng vệ sinh. Lợi dụng lúc anh Ngọc không để ý, Luyện lao ra đâm nhiều nhát. Nạn nhân hô hoán, người vợ chạy ra cũng bị đâm. Cuộc vật lộn diễn ra giữa vợ chồng nạn nhân và sát thủ.
"Bị cáo nghe người vợ kêu rằng, anh đã đâm vào chân em rồi", Luyện khai.
Sau khi hạ gục vợ chồng anh Ngọc, Luyện xuống dưới chém bé Bích, rồi tiếp tục sát hại cháu bé 18 tháng tuổi. Gây án xong, Luyện gọi cho Trương Thanh Hồng đến đón, rồi về nhà tắm rửa, khâu vết thương trên người.
"Bị cáo không dám bán vàng để chuộc xe mà đưa sợi dây chuyền cho Hồng bán lđể chuộc xe hộ ra. Bị cáo còn dặn dò Hồng nếu có ai hỏi thì bảo vào Nam", Luyện khai. Tuy nhiên, sau đó, Luyện bắt xe lên Lạng Sơn, ở nhà người cô và nhờ chú đưa sang bên Trung Quốc.
Ảnh: Hoàng Hà.
Lê Văn Luyện cúi gằm mặt khi nghe bản án. Ảnh: Hoàng Hà.
9h30 chủ toạ hỏi: "Ngoài bị cáo, có ai tham gia, xúí giục không?". Luyện trả lời: "Không, bị cáo chỉ có một mình". "Ngoài số vàng đó ra, bị cáo còn cướp, chiếm đoạt tài sản gì nữa?. "Không ạ. Bị cáo không biết làm như nào nên phải đi cướp. Bị cáo bị cuống nên mới sát hại gia đình chủ tiệm vàng", Luyện lí nhí.
"Bị cáo từng khai nhà anh Tám Định soi đèn pin và có gọi điện báo cho vợ chồng chủ tiệm vàng báo có trộm đấy. Tại sao bị cáo biết họ tên là Tám Định?", chủ tọa đặt câu hỏi. Luyện đáp ngay: "Bị cáo chỉ biết gia đình ông đó bán loa thùng".
10h sau khi lắng nghe thẩm vấn, luật sư Phạm Thanh Huỳnh (bảo vệ cho bị hại) lên tiếng: "Khi đâm ông chủ tiệm vàng, ông chủ kêu cướp hay bà chủ kêu?". “Ông chủ kêu rồi bà chủ chạy lên ôm ạ”, Luyện đáp. Hắn cho biết không đâm mà chỉ vật lộn với bà chủ tiệm, rồi cứa cổ.
"Bị cáo khai có vật lộn với ông chủ ở tầng 3. Vậy bị cáo có thấy vô lý khi gây án với bà chủ mà ông chủ vẫn ngồi tầng 3 để bị cáo gây án không?, luật sư hỏi. "Cái đó bị cáo không biết", Luyện đáp.
"Bây giờ gia đình bị hại cho rằng bị cáo không thể thực hiện một mình, bị cáo nghĩ thế nào?". "Bị cáo không biết, bị cáo chỉ có một mình", Luyện ngập ngừng. "Bây giờ cho bị cáo thực hiện lại các hành vi đó, bị cáo có làm được không?", luật sự hỏi. "Bị cáo có ạ", Luyện đáp.
"Bị cáo cho biết lý do gì, trước đó thì tắt nguồn điện, sau đó, khi gây án xong bị cáo lại bật. Có phải để nhìn cho sáng để tiện cho viêc lục tìm tài sản hay là có người khác bật nguồn điện cho bị cáo?", luật sư Huỳnh truy hỏi. "Bị cáo sợ tắt hết điện trong và ngoài sẽ có người nghi", Luyện đáp.
Trong khi con trai khai nhận, ông Lê Văn Miên mắt đỏ lựng, hai tay đan xen vào nhau. Trương Thanh Hồng (anh họ Luyện), ngồi cạnh mắt rưng rưng.
Toàn cảnh phiên phúc thẩm xét xử Lê Văn Luyện. Ảnh: Hoàng Hà.
10h15, phần thẩm vấn Lê Văn Luyện kết thúc, hắn về chỗ ngồi, hai tay đan chéo, mặt lầm lì. Thỉnh thoang Luyện ngó sang máy tính của một số phóng viên ngồi gần đó.
Hội đồng xét xử chuyển sang xét hỏi ông Lê Văn Miên (bố Luyện). Bị cáo Miên khai ông không hiểu biết pháp luật, chỉ vì thương con nên bao che.
10h30, trả lời tại tòa, Trương Thanh Hồng khai sau khi nhận được điện thoại của Luyện đã ra đón và nhận hai sợi dây chuyền và giấy cầm đồ chiếc xe.
"Hôm nay bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ, bị cáo phải thành khẩn khai để Hội đồng xét xử xem xét", chủ tọa nhắc nhở. "Bị cáo không biết ngoài những điều trên ạ", Hồng đáp.
Theo bị cáo Trương Văn Hợp (bố bị cáo Hồng), khi ông Miên rủ đi Lạng Sơn chơi, ông gặp Luyện ở đó và hỏi có liên quan đến vụ cướp vàng?
"Bị cáo vặn hỏi, Luyện bảo thực hiện một mình. Bị cáo còn nghi ngờ, vụ án to vậy mà mày làm một mình à, khi đó, Luyện vẫn nói gây án một mình", ông Hợp trả lời rõ ràng.
Luyện ngồi phía dưới, chân di di khi chủ toạ tiếp tục phần thẩm vấn cô ruột Lê Thị Định - người đã che giấu khi hắn lẩn trốn ở Lạng Sơn. "Bị cáo do ở vùng sâu, xa, không hiểu biết pháp luật nên phạm tội", Lê Thị Định nức nở trước vành móng ngựa. Người đàn bà này trải lòng, hiện nay còn hai con nhỏ mà vợ chồng bị đi tù không ai chăm sóc.
11h phần thẩm vấn các bị cáo kết thúc, phiên tòa chuyển sang phần trình bày của gia đình bị hại. Ông Đinh Văn Hương (anh trai chị Đinh Thị Chín, chủ tiệm vàng) thắc mắc, lúc đầu cơ quan điều tra đếm được 199 chiếc nhẫn, sau đó lại thông báo số nhẫn ít hơn 24 chiếc.
Mắt ngấn lệ, ông Hương kể về hiện trạng của bé Bích thời điểm hiện tại và tương lai. "Cháu tôi tàn tật vĩnh viễn, sẽ phải phụ thuộc vào người khác, chiếc tay bị chém giờ vẫn còn yếu", ông Hương nói. Ông Hương yêu cầu bồi thường 200 triệu đồng tiền điều trị cho cháu Bích cùng 500 triệu đồng tổn thất tinh thần cho người thân của các nạn nhân.
Còn ông Đinh Quốc Sinh (anh trai bà Chín) thắc mắc: "Luyện khai có nhờ người dẫn mua dao? Việc tắt camera và điện hai chỗ này cách nhau tới 10m. Luyện khai không đâm Chín, vết thương hình móng ngựa trên người em tôi thì thế nào? Chúng tôi cần Luyện giải thích và cơ quan điều tra làm rõ".
Ông Sinh cũng đề nghị tòa làm rõ về ôtô đỗ gần tiệm vàng, một số dấu vết máu tại hiện trường đã bị xóa. "Hiện nay cháu Bích vẫn khẳng định có hai người vào nhà mình. Chúng tôi đề nghị hủy bản án và "diễn" lại hành vi của Luyện", ông Sinh nói.
11h30, phần thẩm vấn kết thúc chuyển sang phần tranh luận. Đại diện VKSND tối cao kết luận vụ án. Vị đại diện VKS giữ quyền công tố tại tòa nhận định, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ, bồi thường một số tiền cho gia đình bị hại, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình có công với cách mạng. Tuy nhiên, đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến dư luận, VKS đề nghị không chấp nhận kháng án xin giảm nhẹ hình phạt của 5 bị cáo Lược, Hồng, Hợp, Nghi, Định.
Theo vị đại diện VKS, về lời khai của cháu Bích, trong hồ sơ, có lời khai phù hợp với lời khai của Luyện về việc chém hai chị em. Ngoài ra, sau đó, cháu Bích khai có một thanh niên cao khoảng 1m60 đứng ở cầu thang, nhưng do trời tối nên không nhận rõ. "Cháu có cảm giác có người đứng ở đó nhưng không biết chính xác", đại diện VKS trích dẫn. Đại diện VKS khẳng định toàn bộ lời khai của Luyện cho thấy không có đồng phạm.
11h50, HĐXX tạm dừng phiên xử, phòng xử án nhốn nháo. Ông Tín (ông nội bé Bích) mặt đỏ lựng vì bức xúc, chưa rời khỏi phiên toà.
13h30 tòa làm việc trở lại.
* Clip: Lê Văn Luyện trước phiên xét xử
* Ảnh: Phiên xử phúc thẩm Lê Văn Luyện (Ngoisao.net)
Hai tháng trước, ngày 10-11/1, TAND tỉnh Bắc Giang đã mở phiên tòa sơ thẩm đối với Lê Văn Luyện, thủ phạm gây ra vụ thảm sát tiệm vàng Ngọc Bích (thị trấn Sàn, tỉnh Bắc Giang). Bố đẻ cùng cô chú, anh họ của Luyện cũng bị ra trước vành móng ngựa về các tội che giấu, không tố giác tội phạm.
Bản án sơ thẩm xác định, rạng sáng 24/8/2011, Luyện đột nhập tiệm vàng Ngọc Bích, cắt hệ thống camera, chuông báo động, đâm chết vợ chồng chủ tiệm. Con gái lớn của họ (bé Bích) bị chém đứt lìa tay phải, bé út bị giết. Luyện vơ vét 200 chỉ vàng ta, gần 153 chỉ vàng tây trong tủ trưng bày ở tầng 1, tổng giá trị tài sản hơn 1,27 tỷ đồng.
Theo TAND Bắc Giang, hồ sơ vụ án, kết quả khám nghiệm cho thấy không có cơ sở xác định Luyện có đồng phạm. Lời khai của Luyện về việc đột nhập tiệm vàng trùng với kết quả thực nghiệm hiện trường. Các vết chém trên người 4 nạn nhân khi khám nghiệm cũng khớp với lời khai hung thủ.
Với những phân tích trên, HĐXX cho rằng cáo trạng truy tố Luyện về 3 tội danh là có cơ sở. Luyện bị phạt 18 năm về tội giết người, 18 năm cho tội cướp tài sản, 9 tháng tù do lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, do bị cáo gây án khi chưa đến tuổi thành niên (17 tuổi, 10 tháng 6 ngày) nên tổng hợp các hình phạt không quá 18 năm tù.
6 bị cáo còn lại của vụ án gồm: Lê Văn Miên (bố Luyện) lĩnh án 48 tháng tù do che giấu tội phạm; đồng phạm Trương Thanh Hồng và Lê Thị Định bị phạt lần lượt 30 tháng, 15 tháng. Do không tố giác tội phạm, bị cáo Lê Thành Nghi bị phạt 15 tháng, Trương Văn Hợp 12 tháng và Dương Thị Lược 9 tháng.
Ngay sau phiên sơ thẩm, đại diện gia đình bị hại đã làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án. Gia đình bị hại cho rằng tại hồ sơ vụ án và trước tòa, các bị cáo khai không thành khẩn; nhiều nội dung, lời khai mâu thuẫn nhằm che giấu hành vi đồng phạm giúp sức cho Luyện thực hiện tội phạm.