Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012

Quần đảo Hoàng Sa


Quần đảo Hoàng Sa (tiếng Anh: Paracel Islands; Trung Quốc gọi là 西沙群島 - Quần đảo Tây Sa) là một nhóm khoảng 30 đảo, bãi san hô và mỏm đá ngầm nhỏ ở Biển Đông (xem Đảo Biển Đông), cách miền trung Việt Nam khoảng một phần ba khoảng cách đến những đảo phía bắc của Philippines. Cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) của Việt Nam khoảng 200 km, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 km.
Huyện đảo Hoàng Sa được thành lập từ tháng 1 năm 1997, là một quần đảo san hô nằm cách thành phố Đà Nẵng 170 hải lý (khoảng 315 km), bao gồm các đảo: đảo Hoàng Sa, đảo Đá Bắc, đảo Hữu Nhật, đảo Đá Lồi, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn, đảo Cây, đảo Bắc, đảo Giữa, đảo Nam, đảo Phú Lâm, đảo Linh Côn, đảo Quang Hòa, Cồn Bông Bay, Cồn Quan Sát, Cồn Cát Tây, Đá Chim Yến. Huyện đảo Hoàng Sa có diện tích: 305 km2, chiếm 24,29% diện tích thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên hiện nay toàn bộ huyện đảo này đang bị Trung Quốc xâm chiếm từ năm 1974.
Địa lý
·  Tọa độ địa lý: từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông
·  Chu vi bờ biển: khoảng 518 km
·  Độ cao: chỗ thấp nhất 0 m (biển Đông), chỗ cao nhất 14 m (địa điểm chưa có tên ở đảo Rocky)
·  Tài nguyên: thiếu
·  Nguy hiểm tự nhiên: bão
·  Tên các đảo (huyện đảo Hoàng Sa): chia thành hai nhóm
·         Nhóm Đông (Amphitrite Group; Việt Nam Cộng Hòa gọi là "nhóm An Vĩnh", nguyên là tên của một xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi thời trước; Trung Quốc gọi là 宣德群島 - Quần đảo Tuyên Đức): đảo Cây (Tree Island), còn gọi là đảo Cù Mộc, đảo Bắc (North Island), đảo Giữa/Trung (Middle Island), đảo Nam (South Island), đảo Phú Lâm (Woody Island), đảo Linh Côn (Lincoln Island), Cồn Cát Tây (West Sand), Cồn Cát Nam (South Sand), Đá/Hòn Tháp (Rocky Island)
·         Nhóm Tây (Crescent Group; còn gọi là nhóm Trăng Khuyết hay nhóm Nguyệt Thiềm vì có hình cánh cung hay lưỡi liềm; Trung Quốc gọi là 永樂群島 - Qquần đảo Vĩnh Lạc): đảo Hoàng Sa (Pattle Island), (đảo) Đá Bắc (North Reef), đảo Hữu Nhật (Robert Island), (đảo) Đá Lồi (Discovery Reef), đảo/đá Bạch Quy (Passu Keah/Island), đảo Tri Tôn (Triton Island), đảo Quang Ảnh (Money Island), đảo Quang Hòa (Duncan Island), đảo Duy Mộng (Drummond Island), Cồn/Đá Bông Bay (Bombay Reef), Đảo/Đá Chim Yến (Vuladdore Reef).
Lịch sử
·         Đầu năm 1907, Nhật Bản chiếm Đông Sa (Pratas) làm cho các nhà cầm quyền miền Nam Trung Quốc quan tâm đến các đảo trên Biển Đông. Tháng 5 năm 1909 Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn phái đô đốc Lý Chuẩn đem 3 pháo thuyền ra thăm chớp nhoáng một vài đảo trên quần đảo Hoàng Sa rồi về.
·         Năm 1921 Chính quyền miền Nam Trung Quốc ra quyết định sáp nhập quần đảo Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam. Từ đó bắt đầu có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Pháp về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và từ thập niên 1930 trên quần đảo Trường Sa.
·         Trong suốt các năm 1931 - 1932, Pháp liên tục phản đối việc Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.
·         Trước năm 1932, quần đảo Hoàng Sa được đặt trong các bản đồ lãnh thổ Việt Nam bởi nhà Nguyễn.
·         Năm 1932, Đông Dương thuộc Pháp (French Indochina) sáp nhập quần đảo vào lãnh thổ của mình. Pháp lần lượt đặt một trạm khí tượng trên đảo Woody (tiếng Pháp: île Boisée) mang số hiệu 48859 và một trạm khí tượng trên đảo Pattle mang số hiệu 48860.
·         Năm 1935, lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố một bản đồ có cả 4 quần đảo trên Biển Đông là của Trung Quốc. Công hàm của Công sứ Trung Quốc ở Paris gửi Bộ Ngoại giao Pháp năm 1932 còn viết rằng: "Các đảo Tây Sa là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc xa nhất về phía Nam".
·         Ngày 30 tháng 3 năm 1938, vua Bảo Đại ra đạo dụ tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Ngãi nhập vào tỉnh Thừa Thiên. Đạo dụ ghi rõ: Các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời. Chính quyền Pháp và An Nam đã dựng bia chủ quyền cho quần đảo Hoàng Sa trên đảo Pattle. Trên bia có ghi: République française - Royaume d'Annam - Archipel des Paracels 1816 - île Pattle - 1938.
·         Năm 1939, Đế quốc Nhật tấn công chiếm giữ đảo.
·         Năm 1946, dựa trên Tuyên bố CairoTuyên bố Potsdam, 4 tàu chiến của Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên quần đảo với lý do giải giáp quân Nhật. Ngày 7 tháng 1 năm 1947, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố họ đã chiếm giữ quần đảo Tây Sa nhưng thực ra mới chỉ chiếm đảo Phú Lâm (Woody Island) mà họ gọi là đảo Vĩnh Hưng.
·         Ngày 17 tháng 1 năm 1947, pháo hạm Le Tonkinois của Hải quân Pháp đến quần đảo Hoàng Sa để đòi quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi đây. Khi yêu cầu này bị từ chối, quân Pháp bèn đổ 10 quân nhân Pháp và 17 quân nhân Việt Nam chiếm giữ đảo Hoàng Sa (Pattle Island).
·         Tháng 4 năm 1950, quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Phú Lâm.
·         Ngày 14 tháng 10 năm 1950, chính phủ Pháp chính thức chuyển giao quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ Việt Nam, do Bảo Đại đứng đầu.
·         Ngày 6 tháng 9 năm 1951, tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu (chính phủ Bảo Đại) tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị. Tuyên bố này nhằm lợi dụng tất cả mọi cơ hội minh định trên diễn đàn quốc tế xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời trên quần đảo Spratlys và Paracels của nước Việt Nam, để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này. Tại Hội nghị này, đại biểu Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc, nhưng đề nghị này đã bị Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và văn kiện của Hội nghị ký ngày 8 tháng 9 năm 1951 chỉ ghi về hai quần đảo là "Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với 2 quần đảo".
·         Sau khi người Pháp rút năm 1956, tháng 4 năm 1956 Việt Nam Cộng Hoà thay thế Pháp giữ chủ quyền quần đảo. Riêng hai đảo lớn nhất là Phú Lâm và Linh Côn đã bị Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) bí mật chiếm trước khi quân đội Việt Nam Cộng hòa ra đóng quân, đảm nhiệm việc quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa theo đúng trách nhiệm mà Hiệp định Geneve năm 1954 quy định.
·         Trong thời gian này, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã luôn khẳng định và duy trì các quyền chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các hoạt động Nhà nước.
·         Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chu Ân Lai, Thủ tướng nước CHNDTH công khai tuyên bố với quốc tế về quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Hoa Lục, có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).
·         Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đại diện chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã công nhận bản tuyên cáo trên của Trung Quốc về chủ quyền của họ trên các quần đảo biển Đông. Ông đã viết công hàm ngày 14 tháng 9 và cho đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 năm 1958, với nội dung: "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa về hải phận của Trung quốc"[1]. Ngoài ra, sau này, Trung quốc cũng đã nêu một số tài liệu khác do chính Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phổ biến để làm bằng cớ về sự thỏa thuận nhượng biển của Hà Nội.
·         Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh số 174 NV, trong đó ấn định: "Quần đảo Hoàng sa thuộc tỉnh Quảng Nam. Một đơn vị hành chánh xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hòa Vang. Xã Định hải đặt dưới quyền một phái viên hành chánh".
·         Ngày 21 tháng 10 năm 1969, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ký nghị định số 709-BNV/HCĐP để "Sáp nhập xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hòa Long cùng quận".
·         CHNDTH chiếm quần đảo Hoàng Sa từ ngày 19 tháng 1 năm 1974 khi quân đội của họ tấn công quân đồn trú Việt Nam Cộng hòa và chiếm các đảo phía tây trong trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.
·         Ngày 20 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam đã ra bản Tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc.
·         Ngày 14 tháng 2 năm 1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Việt Nam Cộng hòa công bố Sách trắng về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
·         Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Việt Nam thống nhất dưới tên gọi mới Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước CHXHCN Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp đến hai quần đảo.
·         Cùng với bản Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
·         Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam đều có công bố các Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.
·         Ngày 9 tháng 12 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
·         Nghị quyết ngày 6 tháng 11 năm 1996 tại kỳ họp thứ X Quốc hội khoá IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tách huyện Hoàng Sa khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ, sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương.
·         Ngày 23 tháng 6 năm 1994 Quốc hội Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 có Nghị quyết nêu rõ: "Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực". Quốc hội nhấn mạnh: "Cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với các vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982".
·         Ngày 4 tháng 11 năm 2002 tại Phnom Penh (Campuchia), Việt Nam cùng các quốc gia trong khối ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Bản tuyên bố ứng xử trên Biển Đông (DOC), đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trên biển và duy trì ổn định ở khu vực.
Tranh chấp chủ quyền
Hoàng Sa nằm giữa một khu vực có tiềm năng cao về hải sản và trữ lượng dầu mỏ nhưng không có dân bản địa sinh sống. Vào năm 1932, chính quyền Pháp ở Đông Dương chiếm giữ quần đảo này và Việt Nam tiếp tục nắm giữ chủ quyền cho đến năm 1974 (trừ hai đảo Phú Lâm và Linh Côn do Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1956). Trung Quốc chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa từ năm 1974 sau khi dùng hải và không quân tấn công căn cứ quân sự của Việt Nam Cộng Hoà ở nhóm đảo phía tây trong Hải chiến Hoàng Sa, 1974. Đài LoanViệt Nam cũng đang tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này.
Tháng 1 năm 1982, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố sách trắng Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam, trong dó nêu nhiều lý lẽ chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam. Có rất nhiều bằng chứng nghiên cứu độc lập cho thấy Hoàng Sa là của Việt Nam.
Ý nghĩa của quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa tuy chỉ gồm một số đảo nhỏ chơ vơ giữa Biển Đông, có một thời không được các nước trong khu vực chú ý, không có cư dân sinh sống thường xuyên, chỉ có người Việt ra khai thác theo mùa các tài nguyên như phân chim, tổ yến, san hô, đánh cá trong hàng thế kỷ. Nhưng cùng với sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, sự xuất hiện các khái niệm về chủ quyền lãnh hải, sự ra đời của luật biển, khả năng khai thác tài nguyên biển nhất là dầu khí thì các quốc gia có tiềm lực và tầm nhìn xa bắt đàu nhòm ngó quần đảo này như một cơ sở khí tượng thủy văn, quan trọng hơn là một cơ sở hậu cần và là căn cứ quân sự chiến lược trong tương lai có khả năng khống chế Biển Đông, đường giao thông trên biển và cả trên không trong khu vực, một cơ sở luật pháp để bành trướng chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải trên phần lớn Biển Đông cho phép khai thác các tài nguyên biển nhất là dầu và khí.

Việc để mất quần đảo Hoàng Sa đã có tác động xấu đến nghề cá và dự báo khí tượng thủy văn của Việt Nam.

Công tác dự báo bão xa, đặt trạm phát tín hiệu trên Biển Đông, công tác cứu hộ, cứu nạn các tàu cá trong cơn bão số 1 Chanchu tháng 5 năm 2006 gặp nhiều khó khăn cũng do mất quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa.

Đến tháng 9 năm 2006 khi cơn Bão Xangsane (2006) vào biển Đông thì Trung Quốc lại ngăn cản không cho tàu cá Việt Nam vào tránh bão ở quần đảo Hoàng Sa [2]

Bộ đội biên phòng Việt Nam sau này cũng gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân Việt Nam trên biển Đông. Theo tin của Bộ đội biên phòng tại Đà Nẵng[3], khoảng 16h20’ ngày 27 tháng 6 năm 2006, lúc tránh bão số 2, 18 tàu đánh cá xa bờ của Đà Nẵng đã neo đậu tại phía bắc quần đảo Hoàng Sa, có một tàu lạ của nước ngoài đã thả ca nô số 301, trên đó có 6 người, tới cập mạn tàu ĐNa 90052 TS, cướp 25 phi dầu, 4 tấn mực khô, 10 thùng nước ngọt, 18 vỏ phi nhựa sau đó xua đuổi tàu không cho tránh bão.[4]

Quan trọng hơn việc mất quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa tạo cơ sở cho Trung Quốc tiếp tục yệu cầu bành trướng lãnh thổ, lãnh hải về phương nam, chí ít cũng là qua việc công bố và cung cấp qua mạng các bản đồ "chuẩn" của Cục bản đồ quốc gia Trung Quốc trong đó lãnh hải và thềm lục địa mà Trung Quốc yêu sách bao gồm phần lớn Biển Đông, tới tận lãnh hải Malaysia.

Quan điểm của Chính phủ Việt Nam là Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền hợp pháp của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam, trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình.
Tổ chức hành chính
Việt Nam
Việt Nam tổ chức quần đảo thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.
·         Ngày 15 tháng 6 năm 1932, Toàn quyền Đông Dương thiết lập đại lý hành chính ở Hoàng Sa.
·         Trước năm 1938, quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Nghĩa, tỉnh Quảng Nam.
·         Ngày 30 tháng 3 năm 1938, vua Bảo Đại ký đạo dụ chuyển Hoàng Sa về tỉnh Thừa Thiên.
·         Ngày 5 tháng 5 năm 1939, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié chia quần đảo thành hai đại lý hành chính: délégation du Croissant et dépendences (đại lý Trăng Khuyết và phụ cận) và délégation de l'Amphitrite et dépendences (đại lý Tuyên Đức và phụ cận).
·         Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh số 175-NV đặt tên là xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
·         Nghị định số 709-BNV-HC ngày 21 tháng 10 năm 1969 của Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Cộng hòa đã sáp nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long cũng thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
·         Từ năm 1982 là huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và từ năm 1996 thuộc thành phố Đà Nẵng.

Trung Quốc
Quần đảo Hoàng Sa được Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa coi là một phần của tỉnh Hải Nam. Về mặt hành chính nó thuộc cấp biện sự xứ, bao gồm cả ba quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa: Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ (西南中沙群島辦事處).
Trung Quốc tuyên bố kế hoạch mở cửa du lịch quần đảo vào năm 1997. Họ mở rộng những cảng nhỏ ở đảo Phú Lâmđảo Quang Ảnh. Tại đây có một phi trường với đường băng dài 1200 m.

Đẳng cấp phát triển: VN chọn Đông Á hay Đông Nam Á?

Một bài phỏng vấn cũ nhưng rất hay và còn nguyên giá trị

  "Việt Nam đang đứng trước cơ hội cuối cùng để tạo nền tảng vững chắc cho nền kinh tế nước ta cất cánh, khẳng định công cuộc phát triển tương lai của chúng ta thuộc đẳng cấp Đông Á chứ không phải Đông Nam Á.  Ý chí, tầm nhìn chiến lược, thu hút sử dụng người tài và sự nhạy bén, quyết liệt trong phân tích thấu đáo và ý thức học hỏi tinh hoa nhân loại sẽ quyết định đẳng cấp ấy" - TS Vũ Minh Khương, giảng viên Trường Chính sách công Lý Quang Diệu nhận định.
Tác giả loạt bài Đột phá từ triết lý phát triển thu hút sự chú ý của dư luận đã chia sẻ góc nhìn của mình về nền kinh tế Việt Nam và những lựa chọn phát triển tại thời điểm mang tính bản lề - 2008.
Thiếu nền tảng vững chắc để nền kinh tế cất cánh
- Trong nhiều cuộc trò chuyện cũng như các bài viết của giới trí thức và những người có trách nhiệm đều khẳng định năm 2008 như thời điểm bản lề trong công cuộc phát triển của Việt Nam.... Đánh giá của ông?

Năm 2008 là năm khởi đầu của giai đoạn 2008-2010, là giai đoạn nước ta sẽ bước ra khỏi danh sách các nước nghèo và gia nhập vào nhóm các nước có mức thu nhập trung bình. Đó là điều đáng mừng, nhưng cũng rất đáng lo bởi chúng ta đã bước vào giai đoạn có tính then chốt buộc chúng ta phải khẳng định chúng ta sẽ đẳng cấp nào trong công cuộc phát triển sắp tới.
Trong xu thế phát triển hiện nay, chúng ta sẽ đạt được mức thu nhập bình quân đầu người 1000 USD trong mấy năm tới. Tuy nhiên, nền tảng cho nền kinh tế nước ta cất cánh chưa được chuẩn bị sẵn sàng; thể hiện ở chất lượng quản lý vĩ mô yếu, hạ tầng cơ sở và qui hoạch chiến lược kém, dung năng sáng tạo và chất lượng giáo dục còn rất thấp, môi trường ô nhiễm, tệ nạn xã hội đã ở vào mức nghiêm trọng.
Mô tả ảnh.
TS. Vũ Minh Khương, giảng viên trường Chính sách công Lý Quang Diệu.
Chúng ta, trên thực chất, đang đứng trước nguy cơ rơi vào vào cạm bẫy của mức phát triển trung bình: không còn quá nghèo để phải bức xúc cải cách và vượt lên; trong khi đó, các yếu tố nền tảng cho một nền kinh tế tăng trưởng cao trong giai đoạn trưởng thành lại quá yếu. Các mâu thuẫn trong phát triển trở nên gay gắt: giữa tính phức tạp của điều hành vĩ mô và năng lực và phẩm chất của bộ máy quản lý; giữa yêu cầu cao về nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng hệ thống giáo dục; giữa nhu cầu nâng cao sức cạnh tranh toàn cầu về môi trường sống-kinh doanh và điều kiện giao thông, môi trường, ăn ở.
Điều đáng suy nghĩ hơn nữa là, mặc dù chúng ta đang ở vào giai đoạn thuận lợi nhất của phát triển, kỳ vọng của thế giới về tương lai của nước Việt Nam ta dường như cứ thấp dần theo thời gian. 
Ngay sau năm 1975, khi chúng ta vừa thống nhất đất nước, biết bao người đã ngưỡng vọng rằng Việt Nam là một dân tộc có ý chí vô song và người Việt Nam có thể đi tới bất kể mục tiêu nào mà họ đặt ra. Điều này đã không xảy ra bởi chúng ta say sưa quá lâu với chiển thắng và bị lu mờ trong tầm nhìn về tương lai.
Năm 1986, công cuộc đổi mới ở nước ta mở ra một giai đoạn đầy kỳ vọng cho công cuộc phát triển. Vào những năm đầu của thập kỷ 90, nhiều người kỳ vọng Việt Nam sẽ phát triển không thua kém Trung quốc và có thể trở thành một con rồng mới của Châu Á.
" Người ta có cảm nhận là thế giới trong trào lưu toàn cầu hóa mạnh mẽ đang nắm bắt cơ hội Việt Nam chứ không phải dân tộc Việt Nam đã đứng lên nắm lấy vận hội phát triển của mình".
Chúng ta đã có nhiều cố gắng rất đáng trân trọng trong hơn 20 năm qua. Thế nhưng, những nỗ lực này còn rất thấp so với đòi hỏi của thực tế, trong khi tư duy phát triển của ta mới dừng ở mức đổi mới có tính tình thế chứ chưa phải là một cuộc cải cách sâu rộng có tính nền tảng.
Tiến trình phát triển của chúng ta trong 20 năm qua dường như lặp lại mô thức Đông Nam Á theo kiểu tương tự với Indonesia và Thái Lan, trong khi Trung Quốc đi theo mô thức Đông Á, điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, và Singapore.
Kể từ khi chúng ta gia nhập WTO năm 2006, thế giới một lần nữa hướng về Việt Nam. Hy vọng rằng Việt Nam có thể làm được điều gì đó kỳ diệu vẫn còn nhưng đã trở nên nhỏ bé. Người ta có cảm nhận là thế giới trong trào lưu toàn cầu hóa mạnh mẽ đang nắm bắt cơ hội Việt Nam chứ không phải dân tộc Việt Nam đã đứng lên nắm lấy vận hội phát triển của mình.
Trong mấy năm qua, chúng ta thua kém so với hai nước láng giềng là Trung Quốc và Campuchia trên hai chỉ số vĩ mô cơ bản là tốc độ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. Trong giai đoạn 2003-2007, chúng ta tăng trưởng trung bình 8,2% và lạm phát bình quân là 9,5%; trong khi các con số tương ứng của Trung Quốc là 10,8% và 3,3%; của Campuchia là 10,6% và 6,5%.
Mặc dù, mức lạm phát cao này có một phần nguyên nhân là do giá quốc tế tăng cao và Việt Nam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nhưng chúng ta cần lý giải sâu sắc tại sao mức lạm phát của nước ta cao hàng đầu ở Đông Nam Á và tại sao nhiều nước hoàn toàn dựa vào nhập khẩu vẫn có mức lạm phát trong tầm kiểm soát (Singapore: 4,4%; Hồng Kông: 3,8%). Mức chênh lệch về lạm phát khoảng 8-9% giữa nước ta và các nước phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu biểu hiện phần nào căn bệnh hiệu quả thấp của nền kinh tế và hiệu lực hạn chế trong điều hành vĩ mô của nước ta.
Rõ ràng, nước ta đang ở giai đoạn then chốt, nếu không nói là cơ hội cuối cùng để tạo nền tảng vững chắc cho nền kinh tế nước ta cất cánh, khẳng định công cuộc phát triển tương lai của chúng ta thuộc đẳng cấp Đông Á chứ không phải Đông Nam Á. Nếu chúng ta không có nỗ lực đột phá, vào giữa thế kỷ 21 này, Việt Nam sẽ chỉ có một vị thế trung bình ở Đông Nam Á, thua xa mức phát triển của Malaysia hay Thái Lan.
Từ đổi mới đến cải cách
- Vậy theo ông, tại sao công cuộc đổi mới ở nước ta chưa thực sự là một cuộc cải cách để tạo nền tảng vững chắc cho đất nước cất cánh?

Khởi đầu của một công cuộc cải cách sâu rộng đòi hỏi hội tụ được ba yếu tố then chốt. Thứ nhất là sự xót xa, tủi nhục về hiện trạng; thứ hai là nỗi sợ về hiểm họa do không chịu đổi thay; thứ ba là tầm nhìn và tri thức để đảm bảo cho công cuộc đổi thay thắng lợi.
Trong lịch sử nước ta, trước đe dọa xâm lược của quân Nguyên-Mông, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, đã tạo nên một cuộc cải cách mạnh mẽ trong quân sĩ mà nội dung của bài hịch chứa đựng cả ba yếu tố nêu trên.
Về xót xa tủi nhục, ông viết “…Thấy sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ…”; Về nguy cơ hiểm họa, ông nhấn mạnh “…Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng mất; …chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào”; và ông chỉ rõ tầm nhìn và kế sách để thực hiện cải cách bằng viết ra cuốn “Binh Thư Yếu Lược” và thúc giục quân sĩ tu luyện theo nó.
Ở Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình cũng khởi đầu công cuộc cải cách trên cơ sở ba yếu tố then chốt như trên.
Về xót xa, tủi hổ, ông cùng ban lãnh đạo Trung Quốc ôn lại những nỗi nhục mà người Trung Quốc đã phải chịu trong lịch sử cận-hiện đại, bắt đầu từ thời Mãn Thanh, mà ký ức đau xót ám ảnh họ là tấm biển “Cấm người Trung Quốc và chó” treo ở cổng vào một công viên ở Thượng Hải trong thời thuộc quyền ảnh hưởng của nước ngoài.
Về hiểm họa, ông cũng mời ban lãnh đạo xem bộ phim tài liệu về cuộc hành hình vợ chồng chủ tịch Ceausescu của Rumani để hiểu rõ sự trừng phạt khi lãnh đạo mất đi lòng tin của người dân.
Về tầm nhìn và kế sách, ông cũng cùng ban lãnh đạo và mưu sĩ đưa ra chiến lược bốn hiện đại hóa với quyết tâm đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc vào giữa thế kỷ 21.
"Chúng ta đổi mới trên cơ sở từ bỏ cái cũ và nắm bắt cái mới vì thấy cái cũ có hại quá và cái mới đem lại lợi ích rõ rệt. Cách tiếp cận này là một sự duy lý thông thường mang tính tình thế hơn là xuất phát từ ý chí cải cách triệt để".
Công cuộc đổi mới của nước ta là một bước thay đổi quan trọng; thế nhưng nó được thúc đẩy chủ yếu bởi sự bức xúc của tình thế và nỗ lực “phá rào” ở cấp địa phương.
Chúng ta đổi mới trên cơ sở từ bỏ cái cũ và nắm bắt cái mới vì thấy cái cũ có hại quá và cái mới đem lại lợi ích rõ rệt. Cách tiếp cận này là một sự duy lý thông thường mang tính tình thế hơn là xuất phát từ ý chí cải cách triệt để. Vì vậy, chúng ta có thể năng động tiếp nhận một số cái mới nhưng không thực sự chú trọng cải cách và xây dựng nền tảng căn bản cho phát triển lâu bền.
- Trên đánh giá tổng thể, theo ông, đâu là trụ cột chính yếu quyết định đẳng cấp phát triển của chúng ta?
Có ba trụ cột chính yếu. Thứ nhất đó là ý chí và tầm nhìn chiến lược. Thứ hai, đó là thu hút và sử dụng người tài; Thứ ba, đó là sự nhậy bén, quyết liệt và triệt để trong phân tích thấu đáo và ý thức học hỏi - tiếp thu tri thức và tinh hoa của nhân loại. Ba trụ cột này có sự tương tác chặt chẽ với nhau tạo nên sức mạnh cộng hưởng rất tiềm tàng.
So với Trung Quốc và các nước theo mô hình phát triển Đông Á, chúng ta đang thua kém rất xa trên cả ba trụ cột này.
Về ý chí và tầm vóc chiến lược, một ví dụ dễ thấy về yếu kém của chúng ta là trong qui hoạch đô thị - giao thông và hoạch định chiến lược công nghiệp hóa.
Các thành phố của chúng ta phát triển manh mún, hỗn độn, trong khi chúng ta để mất rất nhiều tiền vào tay những người đầu cơ trục lợi đất đai và say sưa với xây dựng trung tâm hội nghị, khu triển lãm, và tượng đài.
Ở Singapore, người ta coi qui hoạch của một địa phương như là cái la bàn của một con tàu. Theo họ quan sát, nhiều thành phố không chịu sắm la bàn cho con tàu của mình (cho dù qui hoạch ở đẳng cấp quốc tế ở mức khởi đầu chỉ tốn một số tiền nhỏ--khoảng 1 triệu USD), trong khi mất rất nhiều công sức và tốn phí cho tô vẽ, chỉnh trang một số bộ phận trên con tàu.
Mô tả ảnh.
Chiến lược ngành công nghiệp hoá dầu của VN còn nhiều điểm bất cập: phải tự bỏ vốn lớn, giá thành xây dựng cao, quy hoạch không mang tính tổ cụm - liên thông. Ảnh: Nhà máy lọc dầu Vũng Rô
Trong phát triển công nghiệp, ngành hóa dầu của chúng ta là một ví dụ đáng suy nghĩ. Đây là ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, nhưng cạnh tranh rất gay gắt và đòi hỏi vốn, công nghệ, và quyền lực thị trường rất lớn (trong mua nguyên liệu thô và bán sản phẩm); vì vậy, xây dựng ngành công nghiệp này đòi hỏi sự tham gia của những công ty hàng đầu thế giới với qui mô sản xuất lớn và qui hoạch có tính tổ cụm - liên thông để đảm bảo sức cạnh tranh quốc tế cao nhất.
Singapore thực hiện rất tốt chiến lược này trong thu hút các công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực dầu khí như Shell, Exxon-Mobil, Caltex và tất cả đều tập trung trên một diện tích nhỏ của đảo Jurong trong một tổ cụm công nghiệp hóa dầu hoàn hảo.
Trong khi đó, ngành hóa dầu của ta đã phát triển qua hai thập kỷ vẫn chưa xây xong nhà máy lọc dầu đầu tiên. Ngoài ra, chúng ta phải tự bỏ ra một khoản vốn lớn với giá thành xây dựng quá cao. Đồng thời, các nhà máy lọc dầu thứ hai và thứ ba lại dự kiến bố trí ở các nơi khác nhau, thiếu tính tổ cụm và vắng bóng các tập đoàn dầu khí hàng đầu. Theo cách này, ngành hóa dầu ở nước ta sẽ khó có thể một lực đẩy mạnh mẽ trong nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế đất nước trong những năm tới đây.
Về thu hút và trọng dụng nhân tài, chúng ta còn quá ít những vị tướng tài năng và thiếu những đội quân quả cảm trong các lĩnh vực trọng yếu. Tôi có may mắn được tham gia giảng dạy một số khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ của Việt Nam và thấy ở họ nhiều con người thông minh và tâm huyết. Thế nhưng, mọi người đều chia sẻ mấy quan ngại lớn cho các cơ quan nhà nước.
Thứ nhất, khi gặp bài toán khó, các nhà quản lý thường ít có nỗ lực tìm những lời giải có tầm cải cách mà thường chỉ đốc thúc mạnh hơn hoặc đổ tại cơ chế và nguyên nhân khách quan.
Thứ hai, công suất hữu ích trong sử dụng năng lực của cán bộ ở mức thấp (nhiều ước đoán cho thấy chỉ ở mức xấp xỉ 50%).
"Về thu hút và trọng dụng nhân tài, chúng ta còn quá ít những vị tướng tài năng và thiếu những đội quân quả cảm trong các lĩnh vực trọng yếu".
Thứ ba, sau một số năm công tác ở một cơ quan nhà nước, giá trị chủ yếu của một cán bộ là lòng nhiệt thành với công việc có xu hướng bị giảm sút. Điều đó cho thấy, với cơ chế hiện nay, chúng ta khó có thể thu hút và trọng dụng được cán bộ tốt thông thường chứ chưa nói đến tài năng. 
Trong khi đó, ở Trung Quốc, nhân tài được thu hút và trọng dụng đặc biệt trên khắp mọi lĩnh vực, dù ở cương vị bộ trưởng hay hiệu trưởng các trường đại học.
Điều đặc biệt đáng lưu ý là Trung Quốc vừa thành công trong thuyết phục Ngân hàng Thế giới bổ nhiệm công dân Lin Yifu của mình làm Kinh tế gia trưởng, một chức vụ danh giá và có ảnh hưởng rất lớn đã từng được đảm nhiệm bởi Larry Summer (cựu chủ tịch Đại học Harvard) và Josepth Stiglitz (người đã nhận giải thưởng Nobel về kinh tế). Việc bổ nhiệm này sẽ giúp Trung Quốc tăng thêm đáng kể ảnh hưởng của mình trong thế giới đang phát triển, đặc biệt là châu Phi.
Theo nhiều học giả người Trung Quốc, trong ý chí trở thành cường quốc, Trung Quốc không theo mô hình “Bá quyền” như kiểu Mỹ (dựa vào quyền lực quân sự và kinh tế để ép buộc các nước phải theo) mà theo mô hình “Vương quyền”, theo đó, coi trọng bổ nhiệm người tài vào các cương vị then chốt có sức thu hút và qui phục nhân tâm trên qui mô toàn cầu.
Về phân tích thấu đáo và nỗ lực học hỏi, chúng ta còn rất yếu. Chúng ta chưa có chiến lược tổng hợptiếp thu những kinh nghiệm hay nhất của quốc tế, từ xây dựng chiến lược phát triển đến xây dựng hệ thống chính trị và bộ máy quản lý nhà nước; từ qui hoạch đô thị đến quản lý giao thông; từ cải cách giáo dục đến chăm sóc sức khỏe và đời sống của người dân.
Một ví dụ nhỏ mà nhiều bè bạn quốc tế thường nhắc đến khi nói về tính kém học hỏi của Việt Nam là chúng ta không có mã số bưu điện (zip code) cho địa chỉ của cơ quan hay nhà ở, điều mà hầu hết các nước đều phải có.
Một ví dụ nữa là chúng ta dường như sẵn sàng bỏ nhiều tỷ USD để xây dựng đường sắt cao tốc Bắc-Nam nhưng không hề trăn trở phân tích xem tại sao hiện nay tỷ mức hiệu quả trên 1km đường sắt của chúng ta so với Trung Quốc chỉ bằng 1/10 về doanh thu; 1/4 về vận chuyển hành khách (người-km) và 1/20 về vận chuyển hàng hóa (tấn-km).

Chiến tranh với Việt Nam: Trung Quốc không mất nhiều?

 Tờ báo mạng Asia Times vừa đăng bài của Jens Kastner, một cây bút ở Đài Loan, cho rằng cái giá cho cuộc chiến của Trung Quốc để tranh giành chủ quyền trên Biển Đông là ‘không lớn lắm’.

Trung Quốc sẽ dễ dàng giành chiến thắng trên Biển Đông?
Theo tác giả, đã xuất hiện những dấu hiệu rộng rãi từ phía Trung Quốc rằng nước này có thể khởi động các cuộc tấn công quy mô nhỏ ở những vùng biển có tranh chấp vốn được tin rằng có trữ lượng dầu mỏ lớn.
Hậu quả của các cuộc phiêu lưu quân sự như thế đối với Bắc Kinh là có thể chấp nhận được, ông Jens Kastner viết.
Thế bí Malacca
Chỉ tính riêng trong tháng Ba (năm 2012), Bắc Kinh đã khẩu chiến với Seoul về một đảo đá ngầm, với Manila về kế hoạch của nước này xây dựng một cầu cảng và với Hà Nội về động thái xây dựng các giếng dầu khí của Trung Quốc.
Cuộc chiến không chỉ dừng lại ở ngôn từ. Tàu cá của Việt Nam cũng đã bị Trung Quốc bắt và ngư dân trên tàu bị giam giữ.
Điểm chung của tất cả các vùng biển, quần đảo và đá ngầm xảy ra tranh chấp này là chúng nằm gần bờ biển của các nước tranh chấp khác hơn là gần bờ biển Trung Quốc.
Khi các nhà chiến lược nhắc đến ‘Thế bí Malacca’, ý của họ là các tuyến đường thông thương trên biển của Trung Quốc rất dễ bị tổn thương. Nếu xung đột xảy ra giữa Mỹ và Trung Quốc, thì nguồn cung dầu thô cần thiết để giúp nền kinh tế nước này vận hành có thể bị gián đoạn một cách tương đối dễ dàng ở eo biển Malacca vốn nối từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương.
Hải quân Philippines được nhìn nhận không phải là đối thủ của Trung Quốc
Theo ước lượng của Trung Quốc thì trữ lượng dầu khí ở tây Thái Bình Dương có thể đáp ứng nhu cầu của nước này trong hơn 60 năm.
Với việc nước này loan báo chi tiêu quân sự chính thức của họ trong năm 2012 là 100 tỷ đôla và ngân sách thật sự của họ trên thực tế cao hơn nhiều, Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc dường như đang trên đường xây dựng sức mạnh cần thiết để đảm bảo công cuộc tìm kiếm an ninh năng lượng của họ diễn ra suôn sẻ.
Các tên lửa đạn đạo chống tàu chiến của họ sẽ khiến cho Washington phải cân nhắc kỹ trước khi đưa lực lượng của họ vào khu vực để cứu nguy cho đồng minh, cũng như các máy bay chiến thuật trên đất liền ngày càng tăng về số lượng và các tên lửa hành trình chứ chưa nói gì tới hạm đội đông đảo các tàu chiến và tàu ngầm phóng tên lửa của họ.
Nếu Bắc Kinh tự tin rằng Washington không muốn can thiệp thì quân đội các nước tranh chấp với họ trong khu vực sẽ phải đối phó với máy bay chiến đấu J-15 được đặt trên tàu sân bay đầu tiên của họ, hạm đội tàu hộ tống đang giă tăng nhanh chóng về số lượng cũng như các tàu đổ bộ lưỡng cư hoàn toàn mới và các tàu chở trực thăng có thể nhanh chóng đưa hàng ngàn lính thủy đánh bộ đến các đảo đang tranh chấp.
"Mặc dù Trung Quốc hiển nhiên không thể dễ dàng thắng Việt Nam và dù một cuộc chiến như thế sẽ gây xáo trộn rất lớn cho khu vực Đông Nam Á và phần còn lại của Đông Á, nó vẫn có thể kiểm soát được." - Steve Tsang, giám đốc Viện chính sách Trung Quốc của Đại học Nottingham
Ý chí chính trị cho các kế hoạch quân sự như thế đã được báo hiệu ít nhất một lần. Trong các bài xã luận trên truyền thông nhà nước của Trung Quốc, nhất là trên tờ Hoàn cầu thời báo, khái niệm về ‘tiểu chiến’ đã được tuyên truyền ngày càng nhiều kể từ năm 2011.
Hồi đầu tháng Ba, thủ tướng nước này Ôn Gia Bảo phát biểu trong cuộc họp Quốc hội rằng Quân đội giải phóng nhân dân nên chuẩn bị sẵn sàng cho các ‘cuộc chiến cục bộ’.
Các chuyên gia mà tờ Asia Times phỏng vấn cho rằng Trung Quốc có thể đạt được các mục tiêu tương lai với các cuộc tấn công quân sự hạn chế.
Ông Steve Tsang, giám đốc Viện chính sách Trung Quốc của Đại học Nottingham, nhận định rằng điều này tùy thuộc phần lớn vào việc cuộc tiểu chiến đó là nhằm mục đích gì, nó được tiến hành như thế nào và chống lại quốc gia nào.
Ông Tsang tin rằng Hàn Quốc sẽ không là mục tiêu tấn công bất chấp các cuộc khẩu chiến bùng nổ gần đây giữa hai nước sau khi người đứng đầu Cục hải dương Trung Quốc cho rằng đảo san hô Leodo, một đảo ngầm ngoài khơi hòn đảo du lịch Jeju của Hàn Quốc, gần như chắc chắn nằm trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.
“Việc Trung Quốc khởi động một chiến dịch quân sự thậm chí ở mức độ hạn chế nhằm vào Hàn Quốc sẽ là một hành vi hết sức nghiêm trọng mà không ai có thể dung thứ,” ông Tsang nói.
“Hoa Kỳ sẽ phải có lập trường mạnh mẽ và có hành động ngay lập tức tại Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc để áp đặt một lệnh ngừng bắn,” ông nói thêm.
"Tuy nhiên, một cuộc đối đầu quân sự nhỏ đối với Việt Nam hay Philippines để giành chủ quyền các đảo san hô ở Biển Đông là một vấn đề hoàn toàn khác," ông Tsang lập luận.
‘Có thể kiểm soát’
"Bắc Kinh có thể cố gắng làm cho các cuộc tiểu chiến đó ở quy mô càng nhỏ và càng ít được chú ý càng tốt." - James Holmes, giáo sư chiến lược tại Trường Hải chiến Hoa Kỳ
“Mặc dù Trung Quốc hiển nhiên không thể dễ dàng thắng Việt Nam và dù một cuộc chiến như thế sẽ gây xáo trộn rất lớn cho khu vực Đông Nam Á và phần còn lại của Đông Á, nó vẫn có thể kiểm soát được,” ông nói.
“Nếu cuộc xung đột này không kéo dài và ở mức độ hạn chế thì tác động tức thời sẽ không lớn lắm.”
Tuy nhiên, ông Tsang cũng cảnh báo rằng việc Trung Quốc tấn công Việt Nam hay Philippines sẽ càng làm cho các nước Đông Nam Á mong muốn hợp tác quân sự với Hoa Kỳ.
“Nhưng về cơ bản những nước này không thể làm được gì nhiều để chống lại một Trung Quốc đang khẳng định mình,” ông nói.
Ông cũng nhận định hiệp ước phòng vệ lẫn nhau giữa Philippines và Hoa Kỳ có thể cũng không giúp cho nước này ‘miễn nhiễm’ trước một hành động quân sự chớp nhoáng của Trung Quốc.
“Chúng ta cần phải xem các điều khoản trong hiệp ước này. Chính phủ Mỹ cần phải xem xét rằng một cuộc tấn công quân sự nhằm vào Philippines có phải là một vấn đề an ninh nghiêm trọng mà nước này cần phải đáp trả hay không và họ cũng cần thời gian để quyết định cách đáp trả phù hợp,” ông phân tích.
Liệu Trung Quốc có dùng biện pháp quân sự để giành chủ quyền các đảo trên Biển Đông?
“Sẽ không có chuyện gì xảy ra nếu chiến sự xong xuôi trước khi vấn đề được đưa ra Quốc hội (Hoa Kỳ) để bàn thảo,” ông nói.
James Holmes, một học giả về chiến lược tại Trường Hải chiến Hoa Kỳ, nhận xét Bắc Kinh có thể dễ dàng không gặp vấn đề gì nếu họ tấn công Philippines hay Việt Nam.
“Bắc Kinh có thể cố gắng làm cho các cuộc tiểu chiến đó ở quy mô càng nhỏ và càng ít được chú ý càng tốt,” ông phân tích.
“Ưu thế của hạm đội của họ so sánh với hải quân các nước Đông Nam Á và việc trang bị các vũ khí mới đặt dọc theo bờ biển như tên lửa đạn đạo chống tàu chiến giúp cho Trung Quốc có khả năng răn đe mạnh mẽ nếu xảy ra xung đột,” ông nói.
Tác động kinh tế
Ông phân tích rằng Trung Quốc sẽ để dành chứ không triển khai các vũ khí chiến đấu chính của nước này mà chỉ dùng các tàu được trang bị tương đối ít vũ trang và tương đối tầm thường trong lực lượng hải giám của họ.
“Hải quân các nước Đông Nam Á có thể sẽ đối đầu với các tàu chiến này, nhưng họ cũng biết rõ rằng quân đội Trung Quốc sẽ triển khai các sức mạnh hải quân có ưu thế vượt trội nếu họ dám đối đầu,” ông nói.
Mặt khác, các nhà kinh tế cũng không thấy có trở ng̣ại gì lắm trong một cuộc tiểu chiến của Trung Quốc để giành năng lượng với các quốc gia Đông Nam Á.
    "Tuy nhiên việc này (cuộc chiến trên BIển Đông) chỉ có tác động rất nhỏ đối với chỉ số lạm phát, thất nghiệp hay sản lượng công nghiệp của bất kỳ quốc gia nào ngoại trừ chính nước bị Trung Quốc tấn công."
Ronald A Edwards, chuyên gia kinh tế chính trị Trung Quốc ở Đại học Tamkang, Đài Loan
“Các thị trường chứng khoán trên toàn thế giới sẽ phản ứng mạnh mẽ trong ngắn hạn – tức là chỉ vài ngày,” ông Ronald A. Edwards, một chuyên gia kinh tế chính trị Trung Quốc ở Đại học Tamkang, Đài Loan, cho biết.
“Tuy nhiên việc này chỉ có tác động rất nhỏ đối với chỉ số lạm phát, thất nghiệp hay sản lượng công nghiệp của bất kỳ quốc gia nào ngoại trừ chính nước bị Trung Quốc tấn công."
Ông Edwards lập luận rằng kết quả của cuộc chiến chớp nhoáng kéo dài 9 ngày giữa Nga và Georgia năm 2008 mà khi đó Nga đã dùng sức mạnh quân sự vượt trội để đẩy Gruzia ra khỏi Nam Ossetia – một hành động bị phương Tây lên án – có thể được tham khảo để tính toán xem liệu kinh tế Trung Quốc có phải trả giá đắt cho một chiến dịch phiêu lưu quân sự hay không.
“Cuộc chiến chớp nhoáng của Nga với Gruzia là một ví dụ so sánh rất hay,” ông Edwards nói.
“Trong khi tin tức về cuộc chiến này trở thành tít ở mọi nơi trong vài tuần thì không có tác động gì đáng kể về mặt kinh tế ở các quốc gia ngoại trừ Georgia vào tháng 8 năm 2008 và sau đó,” ông nói thêm.

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

Nga tham gia dự án khí ở Biển Đông

Bản đồ phân lô dầu khí ngoài khơi Việt Nam
Hai mỏ khí Hải Thạch và Mộc Tinh nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn ngoài khơi Vũng Tàu
Tập đoàn khí đốt Nga Gazprom vừa tuyên bố tham gia dự án khai thác khí ở Biển Đông, tại nơi mà công ty Anh BP (British Petroleum) từng phải rút lui dưới áp lực của Trung Quốc.
Thông cáo của Gazprom ra hôm thứ Năm 5/4 cho hay hãng này đã đạt thỏa thuận với Tập đoàn Dầu khí Nhà nước PetroVietnam để cùng khai thác khí đốt tại hai lô 5.2 và 5.3 ngoài khơi Việt Nam.
Hai lô này là nơi có các mỏ khí Hải Thạch và Mộc Tinh, nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn giữa quần đảo Trường Sa và bờ biển Việt Nam. Trung Quốc đã nhiều lần phản đối việc Việt Nam thăm dò khai thác ở khu vực này, mà Bắc Kinh cho là "nằm bên trong hải giới truyền thống" của Trung Quốc.
Chính tại đây, vào năm 2007, Trung Quốc đã gây áp lực buộc BP ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỷ đôla. BP chính thức rút khỏi dự án này năm 2009.
Ngược lại, Việt Nam khẳng định các mỏ khí nói trên hoàn toàn nằm trong thềm lục địa của mình.
Hà Nội cũng nhiều lần tỏ rõ quyết tâm theo đuổi dự án mà sau đó được PetroVietnam đặt tên là Dự án Biển Đông 1, do Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (BĐPOC) - một công ty con của PetroVietnam quản lý.
Hiện chưa thấy có phản ứng gì từ Bắc Kinh trước thông tin Dự án Biển Đông 1 có đối tác nước ngoài mới.
Báo Việt Nam cũng chưa có thông tin gì về thỏa thuận này, nhưng Thông tấn xã Việt Nam cho hay Tổng giám đốc Tập đoàn Gazprom Alexey Miller cùng đoàn công tác "đang thăm và làm việc tại Việt Nam".

Chia lợi nhuận

Ông Miller đã có cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang hôm thứ Năm 5/4.
Thông cáo của Gazprom vừa công bố nói sẽ chia sẻ 49% lợi nhuận với PetroVietnam theo thỏa thuận đạt được giữa hai bên.
Trữ lượng của hai mỏ này ước tính vào khoảng 55,6 tỷ mét khối khí gas. Khi đưa vào khai thác, mỗi ngày hai mỏ có thể sản xuất từ 15.000-20.000 thùng khí ngưng tụ.
Gazprom và đối tác Việt Nam dự tính sẽ khoan 16 giếng ở độ sâu 2.000-4.600 mét để khai thác khí.
Trước đây, BP giữ 75,9% cổ phần ở mỏ Hải Thạch.
Hải Thạch và Mộc Tinh là hai mỏ khí thiên nhiên, nằm ở rìa thềm lục địa và khá xa đất liền, cách Vũng Tàu gần 200 hải lý.
Trung Quốc đã nhiều lần gây áp lực đối với các công ty nước ngoài muốn làm ăn với Việt Nam tại các vùng Biển Đông mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền.
Giới phân tích nói phản ứng của các tập đoàn phụ thuộc nhiều vào hậu thuẫn của các chính phủ.
Công nhân PetroVietnam tại bồn trũng Nam Côn Sơn
Việt Nam tỏ quyết tâm theo đuổi dự án khí đốt ở Nam Côn Sơn
Trong khi các hãng dầu như BP của Anh chấp nhận ngừng dự án, thì các công ty Mỹ, được tin là có Washington 'chống lưng', giữ thái độ kiên quyết hơn.
Hồi tháng 7/2008, Trung Quốc đã gây sức ép buộc công ty ExxonMobil của Hoa Kỳ ngừng dự án với Việt Nam tại các lô 135 và 136, khu vực Tư Chính - Vũng Mây của bồn trũng Nam Côn Sơn.
Exxon lúc đó không tuyên bố rút lui, nhưng sau đó cũng không có thêm thông tin gì về tiến độ dự án cho tới tháng 10 năm ngoái khi công ty này thông báo đã tìm thấy dầu sau mũi khoan thứ hai hồi tháng Tám.

Đàm phán song phương

Trong một diễn biến khác, Bắc Kinh vừa một lần nữa kêu gọi đàm phán tay đôi và trực tiếp với các nước quanh Biển Đông, một ngày sau khi Hội nghị Thượng đỉnh khối Asean bế mạc tại Phnom Penh, Campuchia.
Thượng đỉnh Asean lần thứ 20 không đưa ra được đột phá gì trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông giữa nhiều quốc gia Asean và Trung Quốc, và tuyên bố của người phát ngôn Trung Quốc đưa ra hôm thứ Năm 5/4 cho thấy quá trình này đang gặp bế tắc nghiêm trọng.
Ông Hồng Lỗi một lần nữa nhắc lại những điều đã nói nhiều lần, rằng Quy tắc ứng xử của các bên tại Biển Đông "phải đạt được thông qua đàm phán trực tiếp giữa Trung Quốc và các nước Asean".
Một số quốc gia Asean cho rằng Asean, với tư cách một khối, cần đưa ra phương án chung của mình trước khi thảo luận với Trung Quốc.
Tuy nhiên quan điểm này dường như không được một số nước khác trong Hiệp hội chia sẻ.
Campuchia, nước chủ tịch Asean năm 2012, đang bị chỉ trích đã thuận theo áp lực của Trung Quốc trong chủ đề Biển Đông, điều mà Phnom Penh cực lực bác bỏ.

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Tiên Lãng…Tịt Tuốt

Vụ việc Tiên Lãng
Cuối cùng “tỉnh” Hải Phòng đã thông báo “Thu hồi các quyết định không đúng pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng về việc thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất đã giao cho ông Đoàn Văn Vươn”.
Thế là thỏa mãn nhé. Rút lui quyế định rồi, bà con cứ gọi là…Tịt.

Tiếp theo, thông báo nói rõ “Xử lý các vi phạm về sử dụng đất của ông Đoàn Văn Vươn theo quy định của pháp luật”.
Đoạn này khá dài và chi tiết. Người không biết về vụ Tiên Lãng này sẽ nghĩ anh Vươn phạm pháp nên cần “xử lý theo qui định của pháp luật”. Nói gì nữa khi vi phạm sử dụng đất đai như vậy. Gia đình ông Vươn…Tịt nhé.
Tuy vi phạm thế nhưng UBND HP vẫn xoa dịu bằng cách “Thực hiện thủ tục cho hộ ông Đoàn Văn Vươn tiếp tục sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai”.
Cả gia đình đang dính vào vòng lao lý, bị xử về tội giết người, thì tiếp tục cho sử dụng đất có nghĩa lý gì. Trong tù thì làm gì với đất rừng biển được giao. Giao mà coi như không giao. Tịt mồm sau song sắt rồi còn ai đâu mà sử dụng đất. Người ta khôn chán.
Để xoa dịu dư luận về việc giật đổ “lều coi cá”, UBND HP không quên qua loa sẽ điều tra việc phá dỡ nhà coi đầm của ông Đoàn Văn Vươn”. Bố cứ câu giờ đấy, làm gì bố nào, đứa nào còn lèm bèm ông cho…Tịt đấy.
Đoạn sau kết luận luôn đây là vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ” đối với anh Vươn và gia đình. Chưa kể bên thì dùng nội chính điều tra về chuyện phá chòi coi cá, bên dùng cơ quan điều tra, nghiêm trọng hơn nhiều.
Thông báo nhẹ nhàng nhắc đến “25 tổ chức và 50 cá nhân tiến hành kiểm điểm, xử lý kỷ luật, trong đó: Huyện Tiên Lãng đã có 16 tổ chức và 17 cá nhân tiến hành kiểm điểm, xử lý kỷ luật; cấp thành phố đã có 9 tổ chức và 33 cá nhân tiến hành kiểm điểm, xử lý kỷ luật”, nghe có vẻ rất nghiêm túc.
25 tổ chức + 50 cá nhân = 75 đối tượng bị lộ mặt, chưa kể hàng trăm đối tượng khác chưa bị lộ, đấu với mấy người trong gia đình anh Vươn. Riêng một huyện có tới 16 tổ chức bị kiểm điểm, nghĩa là cả huyện bị lên thớt rồi còn gì. Chịu trách nhiệm tập thể rất đặc trưng.
Xử lý kỷ luật các cá nhân, tổ chức rồi, dư luận Tịt đi cho đằng này nhờ.
Sau đó thông báo cũng nói đến “Công tác ổn định tình hình chính trị, diễn biến tư tưởng nhân dân” muốn quần chúng Tịt đi để cho cánh này còn tiếp tục…cưỡng chế.